Chống sự nhiễm bẩn nội môi (Phần 4)

00:01 |
3-         Các thuốc công phủ Thận Tránh dùng thuốc khi không cần thiết
Chống sự nhiễm bẩn nội môi (Phần 4)

Mồt nguồn gây nhiễm độc đối vói thận đáng kể của xã hội ngày nay là các chất hoa dược, thông qua việc sử dụng thuốc men không đúng hoặc cọ thói quen sính dùng thuốc gây nên. Chung công phá thận, làm suy yếu hoạt động của thận mà nhiều khi không biết. Đó cũng là một cái giá phải trả đối với những người chỉ muốn mưu cầu sự khoẻ mạnh sống lâu bằng thuốc thang. Có loại thuốc mà con người đã từng dùng từ non một thê hệ kỷ và được coi như ít gây hại nhất, nhưng đến khi lạm dụng nó thì sau mới phát hiện rạ là chính nó đã gây nên trạng thái xơ thận không hồi phục; đó là chất phênaxêtin, vị thuốc giảm đạu, chống cảm cổ điển, ở châu Âu, nhiều nước dùng phổ biến chất phênaxêtin. Các biệt dược có phênaxêtin hầu như có mặt trong mọi tủ thuốc gia đình. Ngừòi ta dùng nó để chữa cảm cúm, chữa nhức đầu và đau xương, đau khớp. Mãi đến năm 1953 và sau đó năm1959, hai tac giả Đức là Zọllinger và Spuler mới phát hiện thấy trạng thái viêm thận kẽ tiến triển đến suy thận hoàn toàn không hồi phục ở những người có thói quen dùng nhiều và kéo dài chất phênaxêtin để chữa bệnh. Những công trình thực nghiệm tiếp theo trên súc vật cụng đã xác minh nhận xét đó.

Ngày nay ai cũng đã biết có nhiều loại thuốc rắt độc đối với thận, người khoẻ dùng đã phải hết sức cẩn thận, người yếu càng phải cẩn thận hơn. Có nhiều loại thuốc mà nếu thận yếu thì không thể dùng đựơc.

* Đứng đầu các loại kháng sinh gây hại cho thận là Streptomyxin, nhất là đối vói thận ngưòi già. Chúng tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp ở các bệnh nhân 70 tuổi trở lên, chỉ sau khi tiêm 4-5 gam Streptomyxin để điều tri bênh viêm phế quản, đã làm cho urê máu từ mức bình thường tăng vọt lên 0,6- 0,7g đến lg/lít và, sau đó phải vất vả lắm mối điều trị hạ được mức urê máu trở lại bình thường. Tuy nhiên, điều đó không phải lúc nào cũng phát hiộn ra. Nhiều trường hợp tưởng mức urê lên ở người già như thế là do bệnh thận cũ hoạc do biến chứng thận cùa bệnh viêm phổi, khiến rất dễ quên không nghĩ đến loại thuốc đã dùng. Đó là chua nói đến những người do thiếu kinh nghiệm, chưa hiểu rõ hay chưa thông, nên không phát hiện ra. Sau đó là các loại thuốc Nêomyxin, Colimyxin, Colixin, Baxitraxin; các thuốc chống lao Etambuton, Rifamyxin; các thuốc chống nấm như Mycoxtatin, Glyxeroíulvin, đều gây tác hại mạnh đến thận. Chỉ dùng đến chúng khi thật cần thiết, dựa trên nguyên tắc “ lợi ít hại nhiều” thì không nên dùng. Vì vậy khi sử dụng những loại thuốc này đều phải do thầy thuốc có kinh nghiệm và hiểu biết thấu đáo thì mói có hiệu quả cạo và hạn chế bớt tác hại. Đối với những người đã cao tuổi mà thận lại yếu thì nhũng thuốc trên có thể gây nên suy thận không phục hồi.

*          Sulfamit cũng là loại thuốc có ảnh hưởng không tốt đến thận, nếu đùng không đúng. Liểụ cao phải thận trọng, và phải uống nhiều nước để thuốc bài tiết ra được dễ dàng, nếu không, chúng có thể kết tinh trong ống thận vù gâỵ tắc nghẽn ống thận, dẫn đến trạng thái vô hiệu.

*          Thuốc lợi tiểu có thuỷ ngân đã thịnh hành một thời, ngày nay ai cũng biết những tác hại đến thận của nó. Xu hướng hiện đại lại Tà dùng thay thế bằng các thuốc lơi tiêu/loại Sulfamit hoặc loại ức chế hoạt động của các men hay nội tố trong quá trình tái hấp thu nước ống thận. Các loại thuốc này ít độc hơn loại thuốc có thủy ngân nhưng dùng không đúng cũng rất dễ gây nên suy thận chức năng do hạ thấp thể tích lưu thông vt mất nước quă nhanh. Chúng còn có thể gây nên tình trạng mất Kali máu, dẫn đến những rối loạn nặng trong hoạt dộng của thận và cơ tim.

*          Ngưòi đau dạ dày mà dùng thuốc Bitmút nitrat kéo dài thì cũng có thể bị suy thận do tổn thương cáu thận. Dùng bột cam thảo dài ngày để chữa cơn đau loét hoặc dùng cam thảo làm nước giải khát kéo dài có thổ gây nên bệnh cao huyết áp, do tác động của chất Glyxyrizin trong cam thảo. Bệnh rất dễ nhầm với cao huyết áp do u tuyến thượng thận.

*          Các muối kim loại nặng như vàng, chì, thuỷ ngân, thạch tín, đồng v.v... hay có mặt trong các đơn thuốc chữa hen cổ truyền (cũng có khi có trong đơn chữa sốt kinh giật, đau khớp v.v...) dùng không thận trọng có thể gây nên viêm ống thận cấp, gây đái ra Albumin hay vô hiệu.

*          Một liều thuốc Phênylbutazôn chữa khớp, nếu không chú ý đến tình trạng gan, thận của bệnh nhân, có thể dẫn đến suy thận nặng. Liều lượng thuốc khi dùng cũng phải cân nhắc, nhất là khi tuổi đã cao, vì hai quả thận không còn được khoẻ mạnh như tuổi thanh xuân. Nói chung, liều vừa phải mà còn tác dụng thì không nên dùng liều cạo.

Trên đây là chưa kể đến nhiều loại thuốc khác gây độc cho gan, tim, máu là chủ yếu và cho thận là thứ yếu. Cần phải đặc biệt nhấn mạnh vấn đề nhiễm độc thuốc do tệ nạn “lang vườn” gây nên. Hàng năm, các bệnh viện gặp không ít tình trạng nhiễm độc cấp tính và mạn tính do tai nạn này: suy thận tử vong do mật cá trắm, do dùng các bài thuốc gọi là “gia truyền” cổ kim loại nặng; viêm ống thận cấp do mủ cóc, viêm tắc động mạch do dùng các loại rễ cây có chất độc gây nên v.v... Gòn biết bao trạng thái nhiễm độc mạn tính mà bệnh nhân không biết: vì đã quá tin ông lang này, bà lang nọ (những ông lang khồng được phép Nhà nước), mà mang một bệnh xơ gan, một chứng hạ bạch cầu, rối loạn huyết học, viêm thận tiềm tàng, suy tuỷ.. .

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/11/phong-nhiem-oc-noi-sinh-hay-trang-thai.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: song lau, uống nước đúng cách


Read more…

Chống sự nhiễm bẩn nội môi (Phần 3)

00:01 |
2-         Các thuốc công phá Thộn Tránh dùng thuốc khi không cần thiết
Chống sự nhiễm bẩn nội môi (Phần 3)

Một nguồn gây nhiễm độc đối với thận đáng kể của xã hội ngày nay là các chất hoá dược, thông qua việc sử dụng thuốc men không đúng hoặc có thói quen sính dùng thuốc gây nên. Chúng công phá thận, làm suy yếu hoạt động của thận mà nhiều khi không biết. Đó cũng là một cái giá phải trả đối với những người chỉ muốn mưu cầu sự khoẻ mạnh sống lâu bằng thuốc thang. Có loại thuốc mà con người đã từng dùng từ non một thế hệ kỷ và được coi như ít gây hại nhất, nhưng đến khi lạm dụng nó thì sau mói phát hiện ra là chính nó đã gây nên trạng thái xơ thận không hồi phục: đó là chất phênaxêtin, vị thuốc giảm đau, chống cảm cổ điển. Ở châu Âu, nhiều nước dùng phổ biến chất phênaxêtin. Các biệt dược có phênaxêtin hầu như có mặt trong mọi tủ thuốc gia đình. Người ta dùng nó để chữa cảm cúm, chữa nhức đầu và đau xương, đau khớp. Mãi đến năm 1953 và sau đó năml959, hai tác giả Đức là Zollinger và Spuler mới phát hiện thấy trạng thái viêm thận kẽ tiến triển đến ’suy thận hoàn toàn không hồi phục ở những người có thói quen dùng nhiều và kéo dài chất. phênaxêtin để chữa bệnh. Những công trình thực nghiệm tiếp theo trên súc vật cụng đã xác minh nhận xét đó.

Ngày nay ai cũng đã biết có nhiều loại thuốc rất độc đối với thận, người khoẻ dùng đã phải hết sức cẩn thận, người yếu càng phải cẩn thận hơn. Cố nhiều loại thuốc mà nếu thận yếu thì không thể dùng đựơc.


* Đứng đầu các loại kháng sinh gây hại cho thận là Streptomyxin, nhất là đối với thận người già. Chúng tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp ở các bệnh nhân 70 tuổi trở lên, chỉ sau khi tiêm 4-5 gam Streptomyxin để điều trị bệnh viêm phế quản, đã làm cho urê máu từ mức bình thường tăng vọt lên 0,6- 0,7g đến lg/lít và, sau đó phải vất vả lắm mói điều trị hạ được mức urê máu trở lại bình thường. Tuy nhiên, điều đó không phải lúc nào cũng phát hiện ra. Nhiều trường họp tưởng mức urê lên ở người già như thế là do bệnh thận cũ hoạc do biến chứng thận của bệnh viêm phổi, khiến rất dễ quên không nghĩ đến loại thuốc đã dùng. Đó là chưa nói đến những người do thiếu kinh nghiệm, chưa hiểu rõ hay chưa thông, nên không phát hiện ra. Sau đó là các loại thuốc Nêomyxin, Colimyxin, Colixitt, Baxitraxin; các thuốc chống lao Etambuton, Riíamyxin; các thuốc giảm calo trên chuột miêu tả ở chương trên đã chứng tỏ rõ ràng "một chế độ ăn như thế là một chế độ giảm độc", lợi cho hoạt động của Thận, giúp Thận được nghỉ ngơi và giúp Nội môi ít bị ở nhiễm.

Đọc thêm tại:

Read more…

Chống sự nhiễm bẩn nội môi (Phần 1)

00:01 |
Chống sự nhiễm bẩn nội môi (Phần 1)Ở những chương trên, chúng ta đã nói đến sự thăng bằng tập hợp cặc yếu tố nội môi là một vấn đề rất hộ trọng để duy trì cuộc sống tập thể va sự hoạt động hài hòa của “dân số” 300 ngàn tý*tề bào cùa cơ thể. Đó cũng là điều kiện tiên quyết để bảo ỵệ sức khoẻ con người và nâng cao tuổi thọ. Người ta không thể quan niệm được rằng muốn khoẻ mạnh, muốn sống lâu mà lại để môi trường, sống của tập thể khổng lồ tế bào của cợ thể luôn luôn bị đầu độC; vì sự nhiễm bẩn do những thói quen có hại trong sinh hoạt hàng ngày của cá nhân, trong chế độ ăn uống không hợp lý, trong môi trường không khí và nguồn nước v.v... gây nên. Vì vậy, “chống sự nhiễm bẩn nội môi”.là một vấn đề bao quát nhất của chế độ vệ sinh để nâng cao tuổi thọ của mỗi ngừời. Nó bao gồm nhiều mặt, từ sự hợp lý và vệ sinh trong ăn uống đến việc làm thanh khiết môi trường xung quanh: từ việc trừ bỏ các thói quen cộ hại như hút thuốc, nghiện rượu đến việc thận trọng dùng từng viên thuốc từng miligam hoá chất dược liệu, từ việc phát hiện vê sinh phòng bệnh trong sinh hoạt hàng ngày.

Chống sự nhiễm bẩn nội môi không phải chỉ là một vấn đề lý luận có tính khoa học tổng quát nhất, hợp lý nhất, mà nó còn có giá trị thực tiễn cho công tác bảo vệ sức khoẻ để con người có thể chiến thắng được bệnh tật một cách hiệu nghiệm. ít nhất, mỗi người cần có ý thức về các mặt sau đây:

1-         Bảo vệ Thận Bộ máy điều chỉnh và thanh khiết nội môi

Việc bảo vệ thận phải được đặt ra từ lúc tuổi còn trẻ. Trước tiên là đừng đưa vào cơ thể bất cứ một thứ gì có hại cho thận, khi không cần thiết. Phải cố tránh một  điều, như Pavlốp đã nói: “Chính chúng ta đã làm cho cuộc đời của chúng ta bị co ngắn lại, do những thái độ không đúng đắn của chúng ta”. Phải bắt đầu vấn đề này ngay từ khâu ăn uống hàng ngày. Không nên nghĩ rằng ăn uống quá mức chỉ đem lại cái hại đơn thuần cho bộ        máy tiêu hoá. Chính thận là bộ phận phải gánh nhiều hậu quả không hay. Một chế độ ăn uống quá nhiều chất đạm (thịt, cá, tôm, cua...) chẳng những không cần thiết và gây nặng nề cho bộ máy tiêu hoá mà còn bắt thận phải làm việc nhiều để thải những chất cặn bã tăng cao do sự giáng hoá những chất đạm ấy gây nên. Chúng tôi đã gặp một số trường hợp suy thận xảy ra ở người lớn tuổi, sau khi bệnh nhân đã quá chén một bữa rượu. Dĩ nhiên, những người này vốn đã có hai quâ thận hoạt động không tốt từ trước mà không biết. lình hình cũng giống như một người đang bình thường bỗng xảy ra suy thận nặng sau một tai biến chảy máu do vết thương loét hành tá tràng.


Khi tuổi đã lớn, vấn đề điều độ trong ăn uống hàng ngày lặị càng phải được đặt ra. Xã hội luôn luôn đặt vấn đề đấu tranh cải thiện sinh hoạt cho người già; chống nạn thiếu ăn, nạn suy dinh dưỡng ở người già. Nhưng một chế độ ăn dư thừa chất đạm, ở người lớn tuổi, cũng không phải là một vấn đề đáng khuyến khích. Xu hướng tăng các chất cặn, đạm dư thừa; tăng cholesterin trong máu, cũng như sự tích đọng chất axit uric trong khớp xương gây nên bệnh “thống phong” v.v... ở một nhóm người này là do rối loạn chuyển hoá gây nên, nhưng ở nhóm người khác thì lại là mặt trái của cuộc đời quá sung túc tạo ra. Đó là chưa kể đến những hậu quả đáng buồn do tính dễ tin- một niềm tin cảm tính- về những môn thuốc “gia truyển” (!) không xác thực; hoặc những kinh nghiệm chữa bệnh chưa được xác minh, dễ dàng đem mình ra làm thí nghiệm để đêh nỗi gây nên những tổn thương không phục hồi cho cơ thể.

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/10/chong-su-nhiem-ban-noi-moi-phan-3.html

Từ khóa tìm kiếm nhiềusống lâu, uống nước đúng cách
Read more…

Điều duy nhất có thể chứng minh về Tuổi thọ (P 2)

00:00 |
* Điều duy nhất có thể chứng minh:
Điều duy nhất có thể chứng minh về Tuổi thọ (P 2)

Điều duy nhất liên quan đến tuổi thọ có thể chúng minh trên thực nghiệm là thực hiện một chế độ "giảm caỉo" hay chế độ "ăn đỏi". Ở con người điều đó tương ứng với một chế độ "ăn chay" nghiêm ngặt. Điều này đã từng được nhà lão khoa nổi tiếng thành Venice từ thế kỷ XV, là Luigi Comadro. Ông đã đề xuất "chế độ ăn đói" (thực chất là một chế độ ăn chay) và thực hiện nó từ năm 37 tuổi. Ông đã bỏ rượu, một thói quen của người Hy La từ cổ đại, coi chế độ ăn ít và thanh đạm là một bí quyết của sự trường thọ. Cần chú ý rằng vào thế kỷ XV, tuổi thọ trung bình của người Ý là 35 tuổi, nhưng ông đã sống đến 103 tuổi. Mãi đến những năm 1930 của thế kỷ XX vừa qua, lý thuyết "ăn đói" của L. Comadro mới được chứng minh bằng thực nghiệm của nhà khoa học Clive Mckay thuộc Đại học Comell University. Ông đã dùng những chuột con mới cai sữa và cho chúng ăn khẩu phần chỉ bằng 60% số calo cần thiết cho những con chuột khác, vói những thức ăn thông thường. Khẩu phần hạn chế này được bổ sung thêm Vitamin và các chất khoáng. Những con chuột thí nghiệm này lớn lên rất chậm so vói nhóm đối chứng, nhưng chúng lại tỏ ra khoẻ mạnh kéo dài và đều sống tới 1600 ngày trong khi tất cả chuột nhóm đối chứng được ăn no đủ đều đã chết hết! Khí một số chuột trong nhóm thực nghiệm chế độ "ăn đói" được cho ăn theo chế độ sung mãn bình thường thì chúng lại lớn rất nhanh như những con chuột khác và đều hoạt động tình dục rất mạnh, khác hẳn những con chuột vẫn đang ăn đói.

Cho tới nay nhiều thí nghiệm tương tự đã chứng minh "thí nghiệm khẩu phần ít calo của McKay được bổ sung muối khoáng và Vitamin là cách duy nhất có thể kéo dài được tuổi thọ của súc vật thí nghiệm. Trên chuột chúng có thể sống được tới 1600 ngày, trong khi những chuột được ăn đầy đủ chỉ sống tối đa được 1000 ngày, tứ cuộc sống tăng thêm được tới 60 %.

Chế độ này nếu áp dụng trên người thì đó là một chế độ ăn chay mà đạo Phật đã biết từ lâu, tuy chưa được giải thích một cách khoa học rõ ràng như thực nghiệm của McKay. Đây lại thêm một điều cần chú ý là: nhiều nhận xét của các triết gia cổ đại Á Đông là những chân lý khoa học đã được phát hiện ra từ 5-7 ngàn năm trước, như quan niêm về Vũ Trụ, về Không gian và Thời gian của người xưa, những lý thuyết về phân cực "âm dương" cùng ký hiệu "nhị tiến pháp" của các quẻ Dịch, đến phương pháp Yoga, Nhập Thiền và cả những phương pháp "định vị con ngưòi" theo không gian lịch toán v.v... ta đều nên tìm hiểu kỹ càng trước khi phủ nhận.

Cần chú ý rằng chế độ ăn chay không thể và không nên áp dụng cho trẻ em, chỉ cần áp dụng từ tuổi trung niên (là tuổi bắt đầu xuất hiện sự hóa già khoảng từ 35 tuổi trở lên) cũng đủ hiệu quả. Một chế độ giảm calo đột ngột cũng không được khuyến khích, mà phải thực hiện từ từ cho cơ thể thích ứng.
Theo nhà lão khoa Roy Walford thì phải cần nhiều tháng để giảm số calo trong khẩu phần đang ăn hàng ngày xuống mức 1200 đến 1500 calo/ngày tùy theo cỡ người to nhỏ và số cân nặng khác nhau. Ông cho rằng cần phải nhiều năm với chế dộ giảm calo trên mới có Ịftg|É thể làm giảm số cân nặng của mỗi người xuống 25%.


Một khẩu phần hạn chê số calo trên sẽ bắt ta phải lựa chọn thực phẩm để bảo đảm Vitamin và muối khoáng. Nó sẽ không có chỗ cho đường và đồ ngọt, mỡ động vật và các chất béo khác nhiều, ít chỗ cho bơ, kem tươi, đồ xào rán. Chúng phải nhường nhiều chỗ cho rau quả tươi, ngũ cốc. Một số tác giả cho rằng không cần thiết phải thực hiện chế độ giảm khẩu phần quá ngặt mà chỉ cần ăn uống thanh đạm và thực hiện chế độ "nhịn ăn" mỗi tuần một ngày liên tục trong nhiều năm là đủ. Trong những ngày nhịn ăn chỉ nên uống nước đun sôi để nguội hay nước chè loàng. Có thể uống xen vài cốc sữa tươi trong 24 giờ hay thay sữa bằng cốc nước có pha vài thìa mật ong. Nguyên lý thật đơn giản: hệ tiêu háo được nghỉ ngơi, hệ bài tiết tống được dễ dàng các chất độc còn tồn đọng trong cơ thể. Rõ ràng đây lại cũng là cơ chế để giúp cho việc "thanh khiết nội môi" có liên quan đến Thận mà ta đã sẽ nói kỹ ở chương tiếp theo.

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/10/chong-su-nhiem-ban-noi-moi-phan-1.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: bí quyết sống lâu, uong nuoc dung cach
Read more…

Điều duy nhất có thể chứng minh về Tuổi thọ (P 1)

00:00 |
Nghiên cứu những đặc điểm của các cụ bách niên người ta đều nhận thấy;
Điều duy nhất có thể chứng minh về Tuổi thọ (P 1)

* Về chủ quan:

1-         Đại đa số các cụ đều gầy, lớp mỡdưới. da mỏng. Số cân nặng của các cụ hầu như ít biến động từ khi bước vằo tuổi già.

2-         Da dẻ nhiều cụ vẫn tươi mềm, hống hào, không quá nhăn nheo, khô héo.

3-         Các giác quan: tai còn thính, mắt còn sáng, mũi không hay bị ngạt, rãng không bị hỏng nhiều.

4-         Cơ lực còn tốt, nhiều cụ vẫn tham gia láo động hắng ngàý bĩnh thường theo nghề nghiệp cửa mình, nhưng tất cả đều là lao động tự đo.

5- Tính tình các cụ đều thuộc loại hiến hòa, hòa bình, thường không ưa căng thẳng, cãi cọ. Vì vậy hay nhường nhịn, ít cáu gắt, bao dung, thích tự do.

 6- Không ai nghiện rượu, hút thuốc hay ăn uống quá mức. ...  
       
* Về khách quan:

1- Hầu hết đều có kinh tế gia đình khá, tuy không phải là giầu có, nhưng sung túc, không phải lo nghĩ nhiều về đời sống.

2- Môi trường sống trọng lành, ít ô nhiễm, có độ iôn hóa không khí caọ, ít các yếu tố công kích.

Không thể phân tách ra những yếu tố nào là chính, yếu tố nào là phụ trong tập hợp tất cả các ỵếu tố chủ quan và khách qụan trên . Cũng chưa thể chứng minh được tập hợp các yếu tố trên đều đưá đến sự lão hóa chậm và sự trường thọ, bởi ngấy nay vói sự hiểu biết cao và đời sống được cải thiện ở nhiều quốc gia, đã cho phép hàng triệu người có các điều kiện chủ quan và khách quan như trên, nhưng tiếc thay, tất cả không phải đêu là các cụ bách niên. Chỉ một số rất ít người trong số đó là đạt đến sự trường thọ. Vậy nguyên nhân cốt lõi của sự trường thọ là gì? Chưa ai có thể khẳng định.

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/10/ieu-duy-nhat-co-chung-minh-ve-tuoi-tho_28.html

Từ khóa tìm kiếm nhiềulão hóa, uống nước đúng cách
Read more…

Chống sự nhiễm bẩn nội môi (Phần 2)

20:40 |
 Chống sự nhiễm bẩn nội môi (Phần 2)
Đã có hàng chục người vì nuốt mật cá trám- vì tin rằng chữa được đau xương khớp-mà đến nỗi suy thận tử vong. Cũng đã có nhiéu người khác, vì ăn thịt cốc không cẩn thận để đến nỗi phải mang một bệnh thân mãn tính. Còn biết bao nhiêu người khác bị viêm ống thận cấp vì một lý liều thuốc gia truyển chữa hen, chữa khớp: bị viêm gan. loạn nhip tim hay viêm màng trong động mạch do những rễ cây có độc tính gây nên. Những hiểu biết khoa học không thấu đáo, không đủ sức đánh bại những xu hướng “mê tín dị đoan” rất dễ phục hổi trong bộ óc con người vé những dấu vết từ thồi xưa để lại.

Giai cấp quý tộc thời xưa lại tìm “chất bỏ” trong những phương pháp nấu nướng cầu kì. Sinh hoạt của các vị vua quan thời phong kiến cổ đã thừa xa hoa lãng phí. Nhưng họ vẩn luôn luôn sợ chưa hưởng được đủ các chất bổ trên đời. Để được nhiẻu chất bỏ hơn, họ đã khổng tiếc sức lao động của quần chúng, bắt người hầu chẻ từng hạt cơm gạo tám ra rồi nét vào mỗi hạt cơm đó một mẩu thịt bé tý của nhiều loại chim quý. Khi đã đủ một bát cơm như thế, mới đem đổ lại lẩn thứ hai cho chín hơn, để họ ăn bát cơm kỳ công quá nặng sức lao động đó của con người (trong Hồng Lâu Mộng). Kết quả chẳng phải là các bậc vua quan trên có tuổi thọ cao, mà chính họ là những người chết yểu. Nhiều kẻ quyén quý được nuôi dưỡng trong nhung luạ, trong sự dư thừa chất bổ và thuốc men mà vẫn phải chết yểu từ tuổi chưa thành niên. Chẳng có cái “gien di truyền” nào bắt họ phải chết non như thế. Cuộc sống ngắn ngủi của họ chính là do họ đã tạo ra và chuốc lấy.


Sự nấu nướng cầu kì không phải là phương pháp chế biến thức ăn tốt. Các phương pháp thông thường, đơn giản như luộc, kho, xào, nấu, rang, bung nhừ... lại là những phương pháp hợp khoa học, dễ tiêu, giữ được phẩm chất thức ăn nhiều nhất. Một chế độ ăn giảm độc không những chỉ cần chú trọng đến phẩm chất và tính chất thức ăn, mà còn phải loại bỏ hoặc ít dùng đến phương pháp nấu nướng quá cầu kì. Ngay thức ăn rán cũng không nên ăn nhiều và thường xuyên. Rán ở nhiệt độ cao của mỡ, thường làm cho mỡ dễ bị phân huỷ thành chất acroleỉn-andehýt, một chất kích thích mạnh tế bào gan và tế bào ống thận. Vì vậy, ăn đổ rán tuy ngon nhưng không nên lạm dụng. Chất độc còn có thể thông qua đồ uống ảnh hưởng đến thận. Nghiện rượu, hút thuốc, nghiện cà phê đặc, chè quá chát, dùng các cao thuốc bổ không cần thiết lại là chất độc như mật gấu, mật trăn, cao xương hổ giả V.V.., đều là những căn nguyên gây ô nhiễm nội môi nặng. Những đồ uống như trà (nhất là lá chè xanh), nước vối, cà phê hay vang đỏ uống có-đỉều độ, không thai quá, không tạo thành sự nghiện ngập cố thể đem lại lợi ích cho sức khoẻ, nhung đều không thể lạm dụng. Thí nghiệm về một chế độ ăn giảm calo trên chuột miêu tả ở chương trên đã chứng tỏ rõ ràng "một chế độ ăn như thế là một chế độ giảm độc", lợi cho hoạt động của Thận, giúp Thận được nghỉ ngơi và giúp Nội môi ít bị ô nhiễm.

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/10/ieu-duy-nhat-co-chung-minh-ve-tuoi-tho.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều:  song lau, uong nuoc dung cach
Read more…

Tuổi thọ, một yếu tố của di truyền và nòi giống

16:38 |
Đây là một yếu tố hầu như không thể loại trừ. Có nhiều học giả cho rằng di truyền là yếu 'tố chính: có nhiều dòng họ có sẵn “gen di truyền” của sự sống lâu. Con cháu những người này sống rất dai như cha ông họ, thậm chí họ chẳng cần đến một sự chăm sóc đặc biệt hay “một phương thuốc trường sinh nào”. Những dòng họ không có may mắn được hưộụg thụ những yếu tố di truyền của sự sống lâu thì may lăm là khôg chết yểu; còn muốn đạt đến tuổi “một thế kỉ” thì thật là khó khăn đối vói họ. Vì vậy, tuổi 60’ 70 là “số phận” của những người này, cũng là “số phận” của đại bộ phận dân số.


Tuổi thọ, một yếu tố của di truyền và nòi giống
Đó là một điều “bất công”! Cuộc sống luôn luôn có những định luật khắc nghiệt của nó. Đó là những bức “tường thành”, sức người tưởng như không bao giờ phắ vỡ nổi. Nhưng con người với sức ham muốn mãnh liệt, với những tham vọng và ước vọng lạ kỳ cộng với tính tò mò đã có từ nhỏ, lại biết hy sinh cả cuộc sống khi cần thiết để phá vỡ thành trì ấy, để tấn công vào những quy luật khắc nghiệt ngự trị thế gian và hạn chế những ước mơ của mình. Và hình như cũng chỉ có con người, được trang bị bằng sự hiểu biết không ngừng được nâng cao, mới có khả năng làm việc ấy. Yếu tố di truyền là một sự thật không thể chối cãi, tuy nhiên không thể quan niệm nó như một định mệnh úp sẵn lên cuộc sống của con người và hạn chế mọi ước mơ của họ. Di truyền, dù có khắc nghiệt đến đâu cũng không thể là một điều “không biến đổi”. Chúng có thể bị đẩy lùi trước sức tấn công mỗi ngày một kiên quyết của trí tuệ con người. Ngày nay, người ta có thể tác động đến nó thông qua phức hợp những yếu tố của môi trường và chế độ ăn uống thích hợp, cùng với sự hiểu biết ngày một hoàn chỉnh về khoa học vệ sinh.

Khảo sát những quần thể người sống lâu trong 5 vùng xứ Andes (Êquatơ xích đạo) người ta thấy: yếu tố di truyền và nòi giống không rõ ràng, vì ở đây huyết thống đã pha trộn qua giao lưu nhiều thế hệ giữa người Ấn Độ, người Tây Ban Nha, người Pêru và người địa


phương. Hình như yếu tố “vùng” (environnement) cùng với chế độ ăn uống thanh đạm đã có một vị trí đáng kể trong các cụ sống lâu vùng này.

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/10/chong-su-nhiem-ban-noi-moi-phan-2.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều:  sống lâu, uống nước đúng cách
Read more…

Năm yếu tố của sự sống lâu (Phần 6)

16:37 |
Cuộc sống tâm thật ổn  định
Năm yếu tố của sự sống lâu (Phần 6)

Không có những cũng thẳng quá mức về mặt Tâm thần- kinh

Nghiên cứu cuộc sống về mặt tâm thần của các cụ trường thọ, thấý nổi bật lên mấy ỷếu tố:

* Hầu hết các cụ đều ịậ những người hiền hậu,điềm đạm. Các cụ thường tránh xa những căng thẳng hay những mâu thuẫn vô ích yộỉ người xung quanh. Tất cả các cụ đều lạc quan yêu đời, và hầu như rất ít giận dữ.

* Trong dân số các cụ trường thọ, cọ tới 98% là những người thủy chung với gia đình, không có sự chia rẽ hay ly tán trong quan hệ vợ chồng.
*Không có những biến đổi lớn trong quan hệ tình cảm hay những thay đổi quan trọng về nghề nghiệp gây nên tình trang không thích nghi trong đời sống.

Có lẽ đâỵ cũng chính5 là lý do làm cho số lượng người già nghiêng vể phía nữ giới!  
*          Nhiêu cụ có đặc tính là “rất ít nói” cả đời dè sẻn tiếng nói, đến nỗi có tác giả đã cho đó là một căn nguyên quan trọng của sự sống lâu. “Nói nhiều là một nguyên nhân làm rút ngắn cuộc đời” và “người càng nói nhiêu càng C'ó khả năng chết sớm”. Đó là những nhận xét đã được nêu lên.

Chúng ta chẳng ai lại ước ao một cuộc sống kéo dài bằng phẳng với những chuỗi ngày vô vị, một cuộc sống kéo dài với ngôn ngữ nghèo nàn, tình cảm tẻ nhạt. Nhưng sự sống lâu rõ ràng có đòi hỏi phần tĩnh lặng của đời sống tinh thần. Những căng thẳng quá mức về thần kinh, những sóng gió dồn dập về tình cảm kèm những đau khổ kéo dài, những lo âu mãnh liệt hầu như ít xảy ra trong cuộc đời các cụ trường thọ. Một câu hỏi khác được đặt ra: Tại sao các cụ bà lại có ưu thế sống lâu hơn các cụ ông? .Càng cao tuổi, tỷ lệ nữ giới chiếm càng cao.

*          Trên 60 tuổi, dưới 70: tỷ lệ nam nữ còn ngang nhau. Trên 75 tuổi, đã thấy một nam, hai nữ. Trên 85 tuổi thì 1 nam 3 nữ. Trên 100 tuổi': hầu hết là nữ. Đó là thống kê chung trên thế giới. Riêng vùng Capcađơ và vùng Adecbaidan thì tỷ lệ đàn ông cao tuổi có khá hơn, còn vùng Andes ở Êquatơ thì đàn ông lại sống lâu hơn đàn bà. Để giải thích ưu thế sống lâu của nữ giới, người ta nêu ra lý do có thể chấp nhận như sau:

*          Phụ nữ, nói chung ít có những thói hư, tật xấu như nam giới (hút thuốc, nghiện rượu, ăn chơi trác táng, tính tình gây gổ, ương bướng v.v...)

*          Lao động của phụ nữ so với đàn ông thường thuộc loại nhẹ nhàng hơn. Không những thế, loại lao động nội trợ vẫn được coi là thích hợp với phụ nữ, không đến nỗi gây nên những hao mòn lớn đối với cơ thể như các loại lao động khác.

*          Những khó khăn trong đời sống gia đình và tập thể trong kinh tế và tinh thần, thường đàn ông phải gánh vác và lo toan nhiều hơn phụ nữ; do đó dễ bị những yếu tố công kích tác động đến đời sống.

Cũng theo số liệu khảo sát về các cụ sống lâu, thấy tuổi thọ không liên quan gì nhiều đến hoạt động sinh dục. Theo nhà lão học Binel thì nhiều cụ già đại lão có hoạt động sinh dục mẫu mực và điều độ lúc tuổi trẻ, nhưng cũng có rất nhiều cụ có hoạt động sinh dục bừa bãi lúc thiếu thời. Tuy nhiên, ở đây ta cần thấy rõ một điều là: hoạt động £Ình dục bừa bãi hay nghiêm chỉnh là hiểu hoàn toàn theo nghĩa quy ước về xã hội và đạo đức. Nó khác với sự trác táng về sắc dục, kéo theo những sa đoạ về phẩm chất như nghiện ma tuý, nghiện rượu, bệnh hoa liễu v.v... Trong số các cụ trường thọ hầu như không có tệ này.


Gác cụ cao tuổi cũng hầu hết là có gia đình, nhiều cụ lập gia đình từ hồi trẻ, lúc mới 19- 20. Số cụ già không gia đình chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp, Thống kê tuổi thọ các nhà tu hành theo đạo Thiên Chúa ở châu Âu (Binet) từ nhỏ không cói gia đinh cũng không thấy cổ nhiều người sống lâu hơn số các cụ có gia đình riêng. Điều đó nói lên: hoạt động sinh dục sớm hay muộn, cường độ nhiều hay ít, chưa thấy liên quan rõ đên tuổi thọ. Ở nươc ta, các cụ già cao tuổi, theo điều tra dân số năm 1974 cho biết, cũng đều là các cụ có gia đình và đông con cháu.

Đọc thêm tại:

Read more…

Năm yếu tố của sự sống lâu (Phần 5)

16:36 |
Năm yếu tố của sự sống lâu (Phần 5)Do ăn uống thanh đạm nhiều cụ già mà chúng tôi biết đều có vóc người mảnh dẻ; có cụ bà 92 tuổi cân nặng 34 kg. Nhà lão học Pháp Binet có miêu tả một cụ bà trên 100 tuổi sinh ngày 12 tháng 11 năm 1862, làm thợ giặt thời trẻ, nặng 35,5 kg cao l,38m. Cụ sống mồ côi mẹ lúc 5 tuổi, mồ côi cha lúc 7 tuổi (cha mẹ đều chết vì lao phổi). Cụ sống 21 năm trong nhà dưỡng lẵo dành cho người hưu trí, và năm 100 tuổi vẫn còn đi bộ.

Các cụ ở vùng Apkhadịa đều ăn ít mỡ động vật, mội tuần chỉ ăn thịt vài lần, hàng ngày cậc cụ đều dừng sữa chua. Họ coi người béo là “người có bệnh”. Họ cho rằng người Apkhadia phải gầy đến độ khi nằm nghiêng thì bên hông cốri kẽ hở đủ chỗ cho một coiì chó có thể chui qua. pĩ nhiên lời nói đổ chí là tượng trưng để chỉ cái gẩy của người già vùng này.

Trong thực tế ở nông thôn chúng ta cũng rất thường hay thấy những cụ già 80-90 tuổi hoặc hờn nữa, hầu hết là những cụ rất gầy, lớp mỡ dưới da mỏng, nhưng sức khỏe các cụ lại bền vững lâu dài, quanh năm ít khi ốm vặt. Khảo sát về chế độ của nhiều cụ, do hoàn cảnh kinh tế nông thôn còn kém, nện khẩu phần ăn còn kém về năng lượng và thiếu về cả mặt dạm lẫn mộ nhưng sống đến 90-100 thì nhiẻu cụ đã đạt được nhất là các cụ bà. Vì thế mà tữ lâu nhiều học giả Á Đông đã xướng lên thuyết "nhịn ăn" từng đợt, hoặc thực hiện chế độ ăn chay lâu dài để mứu cầu sự trường thọ Rõ ràng ãn uống là một vấn đề rất quan trọng tròng việc bảo vệ thận và việc đảm bảo sống lâu. Đổ hiểu kĩ vấn đề này vần phải viết cả một cuốn sách, ở đây ta chỉ cần lưu ý mấy điểm vắn tắt sau:

a. Ăn uống thanh đạm không có nghĩa là thiếu thốn để cơ thể bị hao mòn do thiếu cung Gấp các chất cần thiết. Thanh đạm nghĩa lấ tránh khẩu phần dư thừa về chất đạm chất mỡ, chất đường và các chất khoáng. Tránh ăn dư thừa về nằng lượng, có nghĩa là không nên ãtt quá nhiều và quá no.

b. Tránh các thức ăn nấu nướng cẩu kì, khống ăn nhiều thức ăn động vật nhự thịt, cá, tổm, cua.., dùng thay thế một phần đạm động vật bằng đạm thực vật như đậu tương, đậù xanh, đậu đen...

c. Nên ăn thức ãn tươỉ và, thường xuyên dùng thêm rau quả.

d. Tránh nghiện rượu, bia, nghiện chè đặc, nghiện cà phê, hút thuốc.

e. Không ăn khi chưa thật sự đói, không ăn cố, ăn thêm, ần quá no khi cỏ nhiều thức ăn ngon.

Học giả người Nhật là giáo sư Ohsawa, nguyên giám đốc viên triết học vặ khoa học Viễn đông ở Pari đã dựạ; vào học thuyết Ậm dương cưa Á Đông 1 cổ, đề xuất phương, pháp ăn uống theo thuyết dưỡng sinh của ông bao gổm những nội dung sau:

1. Thức ăn thiên về ngũ cốc (gạo, mì, kê, lúa mạch, bắp, cao lương...), rau và nhiều hao quả.
2.Gỉam hẳn thịt cá và các thức ăn động vật (trừ trứng và sữa tươi), tránh sát sinh, ăn chay theo đạo phật.

3.Kiêng ăn đồ đóng hộp và các thức ãn tinh chế theo kĩ thuật hiện đại như đường kính, cà phê hoà tan, thịt hộp.

4.Về nấu nướng giáo sư khuyên ăn cơm gạo muối vừng; chế các loại cơm cháo hay bánh từ bột gạo nứt (gạo không gĩa), vừng, lạc, kê, cao lương, đậu huyết, đậu xanh cùng các rau quả như cà rốt, hành, bí đỏ v.v...

Theo Oshawa, đó chính là chế độ của sự trường sinh. Nhờ thực hiện chế độ đó, giáo sư đã chữa cho nhiều người khỏi các bệnh hiểm nghèo: béo phì, đái đường, bệnh tim mạch, thận, khớp và cả 1 số ung thư. Oshawa đề xướng một trường phái điều trị bằng chế độ ăn ngũ cốc gọi là chế độ Oshawa'.

Gần đây nhiều tác giả nghiên cứu về mối liên hệ giữa chế độ ăn uống với bệnh tim mạch và ung thư phát triển cao ở các nước công nghiệp giầu có như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Canada.., thì thấy: mức tiêu thụ các loại thịt đỏ (súc vật lớn: bò, cừu, lợn) cùng bơ, phó mát tăng cao hơn nhiều so với các thời kỳ trước đã kéo theo tỷ lệ các loại bệnh trên lên đến đỉnh. Còn ở những nước cũng có nền công nghiệp phát triển sau này như Nhật, Đài Loan, Thái Lan, E1 Salvador, Siri Lanca.., ít dùng thịt đỏ và mỡ bão hòa hơn thì các loại bệnh trên vẫn ở mức thấp nhất của biểu đồ. Từ đó có lời khuyên: đi đôi với giảm mỡ động vật cần giảm cả các, loại/thịt đỏ trong khẩu phần ăn hàng ngày.

Đọc thêm tại: http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/10/nam-yeu-to-cua-su-song-lau-phan-6.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: bí quyết sống lâu, uống nước đúng cách


Read more…

Năm yếu tố của sự sống lâu (Phần 4)

16:35 |
Chế độ ăn uống hỗn hợp - thanh đạm

Năm yếu tố của sự sống lâu (Phần 4)
Khảo sát khẩu phần ăn của các cụ sống lâu, người ta thấy có một điểm chung vè chế độ ăn uống: đó là một chế độ thanh đạm suốt đời; một chế độ nặng về rau quả, mật ong, sữa tươi. Trong y học, người ta quen gọi chế độ ăn đó là “chế độ giảm độc, lợi tiểu”, một chế độ làm tăng tuổi thọ con người.

Vê chất đạm, chỉ thấy các cụ ăn với mức độ vừa phải, mỗi tuần chỉ vàỉ ba bữa có thít cá, còn phần lớn là các thức ần thực vật; trong clồ có đậu nành, các loại đậu khác hoặc trứng gà. Các cú ớ châu Âu còn dòng sữa tươi hàng ngày. Đặc biệt, các cụ thích dùng cá hơn thịt. Chúng ta biết, trong cá, lượng mỡ ít hơn trong thịt và chất đạm của cá đễ tiểu, cồ lợi cho người già. Trừ vùng Êquatơ, tất cả cảc cụ có tuổi thọ cao hầu như không nghiện rượu, khồng hút thuốc. Các cụ rất ít dùng các thức ăn để lâu, để ôi lạnh, đồ đóng hộp. Trái lại, hàng ngày đều dùng nhiều hoa quả, rau tươi, mật ong. Các cụ già vùng núi và trung du có tuổi thọ cao, ở nhiều nước đều dùng mật ong thường xuyến trong khẩu phần và rất ít dung đường, đến nỗi co tạc giả đã cho rằng “mật ong là một thứ thuốc trường thọ” (lurixơ). Một chế độ ăn như thế rõ ràng là có đầy đủ chât bổ, nhiều vitamin các loại, giàu các yếu tố vi lượng và muối khoáng. Nó gồm toàn những thức ăn tinh khiết, ít làm ô nhiễm nội môi do các tạp chất gây nên, vì vậy nó là một khẩu phần chống độc và có tính lợi tiểu. Ta lại thấy xuất hiên ở đây mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và vai trò của thận.


Chế độ ăn như trên không phải là quá tốn kém mà rõ ràng là một chế độ no đủ. Tuy nhiên, nó chỉ có thể thực hiện được ở những vùng mà dân số có mức sống tương đối đầy đủ, hoặc những vùng đồng bào miền núi một số nơi có nền kinh tế tự cấp được dồi dào. Ớ nhiều vùng dân tộc thiểu số có tuổi thọ cao, hàng ngày các cụ ăn chủ yếu là khoai tây, sắn, ngô bung với đậu, một ít pho mát làm từ sữa bò hoặc sữa dê, thỉnh thoảng mới có súp thịt hoặc cá khô. Bánh mì trắng hay cơm coi như món ăn cao cấp, rất hiếm. Điều đặc biệt là dân vùng các vùng này ăn rất nhiều hoa quả hái từ trong vườn. Sau bữa ăn thường tráng miệng bằng hoa quả tươi. Nhiều vùng cũng không có mật ong, nhưng họ hay ăn mía để giải khát. Một số chuyên gia dinh dưỡng học khi khảo sát chế độ ăn của các cụ trường thọ, cho rằng một chế độ ăn mà nền tảng là các hạt ngũ cốc, các loại đậu với sữa là một chế độ phòng được bệnh ung thư và tim mạch. Chúng tồi đã có dịp khảo sát tình hình sinh hoạt của một số cụ già từ 85-92 tuổi trên vùng sơ tán thuộc tỉnh Vĩnh Phú năm 70-71; nhận thấy một điều kì lạ là nhiều người hầu như có khẩu phần ăn hàng ngày thấp kém kéo dài suốt đời người. Có cụ đã phải đi ở từ năm lên 8, có cụ phải đi làm thụê từ khi chưa đến tuổi thành niên, nhiều cụ quê tận Thái Bình, Hà Sơn Bình, phiêu bạt lên vùng này từ những năm đói kém xa xưa. Có thể nói khẩu phần ăn hàng ngày của cạc cụ là một khẩu phần thiếu hụt kéo dài về chất đạm động vật; gần như có khi kéo dài hàng tháng không có thịt. Hàng ngày chỉ cọ con tép cơn cua. Hiếm hoị lắm mới có cụ ăn trứng, chưa bao giờ ăn sữa và cả đời mới có một hai lần nếm thử chút mật ong. Thức ăn phổ biến từ trẻ đến già lậ dưa chua cà mụối yà cà sống, tương, mắm tép, hay mắm cáy, và mỗi ngày ăn một lượng rau tươi luộc lớn gấp 2-3 lần lượng chúng ta ăn hàng ngày. Một thức ăn đặc biệt từ tuổi nhỏ đến tuổi trung niên, gần như tuần nào cũng 3-4 lần là “bánh đúc” (Toại bánh này chỉ ăn ít đi từ sau ngày hoà bình lập lại sau năm 1975 do đời sống được cải thiện). Vậy thì tại sao các cụ M trên vẫn có tuổi thọ caọ? Phải chăng những thức ần dân tộc tầm thường như trên lại chính là lý đo đã đẹm đến cho các cụ sức khoẻ? Một số cụ ông tuý sống cực khổ suốt đời, người gầy mảnh nhưng đều cao lớn (í,65m). Khổ người đó khồng thể có nếu trong khẩu phần ăn từ nhỏ đã thiếu hụt chất can xi. Phải chăng chính mồn bánh đủc tẩm thường trên kia đã là nguồn bổ sung chất can xi cho các cụ, là “vị thuốc chống còi xương” phổ biến trong nhân dân ta từ những thế kỉ xa xưa? Chất đạm trong vừng lạc, đậu phụ đậu tương đã là nguồn bổ sung sự thiếu hụt những axit amin quý trong khấu phần ăn của các cụ? Tài liệu phân tích của cố dươc sĩ Pham Văn sổ đã cho biết: ăn hỗn hợp các chất như trên có thể tạo ra sự cân bằng về nguồn bổ sung các chất axit amin quý cho cơ thể, như Mêthionin, Triptôphan, Lysin. Xystin1... Ở châu Âu vấn đề dùng sữa chua đế nâng cao tuổi thọ mới chí được biết từ thời Métsnicốp và phổ biến chừng vài ba chụcnăm nav; nhưng ở nước ta, cha ông ta đã từ nhiều thế kỉ dùng dưa chua hàng ngày; các gia đình đều biết nuôi “mẻ” để dành nấu dấm cá. Việc khảo sát khẩu phần ăn của các cụ đã cho chúng ta nhiều điều phải suy nghĩ về một số món ăn dân tộc đơn giản nhưng có lợi cho tuổi già.

Đọc thêm tại: 
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/10/nam-yeu-to-cua-su-song-lau-phan-5.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: lão hóa, uong nuoc dung cach
Read more…

Năm yếu tố của sự sống lâu (Phần 3)

16:30 |
Biết bao nhiêu người lao động trí óc là những người lao động cần mẫn, không mệt mỏi, khi tuổi già vẫn còn sáng tạo ra nhiều tác phẩm xuất sắc như Pavlốp, Tônstôi, Béctơrăng Rútsen và nhiều người khác nữa.
Năm yếu tố của sự sống lâu (Phần 3)

Một nhóm các nhà tâm lý học Mỹ mới đây cho rằng: con người chỉ đạt đến khả năng đầy đủ nhất vào độ tuổi 60 và sau đó thì suy giảm rất chậm chạp.

Người già có lợi thế về lý trí. Họ tích luỹ được một khối lượng trí thức lớn. Do đó họ có nhiều kinh nghiệm, có sự khôn ngoan và biết nhìn rộng trông xa. Nhiều nhà nghiên cứu về tính sáng tạo đều nhận thấy, những sự nghiệp tồn tại lâu dài lại thường là những sự nghiệp bắt đầu muộn.

Điều quan trọng là phải luôn luôn “lao động” phải suy nghĩ và hành động về một điều gì hữu ích và thích thú để đánh thức và huy động được kho tàng trí tuệ sẵn có. Không chịu lao động để làm thức tỉnh trí tuệ sẽ không còn tính sáng tạo và cả cơ thể lẫn trí óc sẽ bị suy giảm ở bất cư tuổi nào. Nhà triết học cổ Hy lap Hippôcrate năm 83 tuổi đã viết một câu tuyệt diệu: “Sự vưon lên cùa trí tuệ đem lại sảng khoái và nguồn vui, mãi mãi giúp cùng cô đời người

2- Môi trường sống ít bị ô nhiễm sẽ làm tãng tuổi thọ con người

Nghiên cứu phức hợp các yếu tố tạo nên tuổi thọ cao ở những người vùng núi và vùng trung du nhiều nước, người ta thấy nổi bật lên các yếu tố về lao động thể chất, và một yếu tố rất quan trọng là độ ô nhiễm môi trường sống (không khí và nguồn nước). Ở những nơi này hầu như rất ít, nếu không muốn nói là không có ô nhiễm. Ở đây có bầu không khí thanh khiết, nguồn nước mạch trong lành, áp suất khí quyển thấp; độ dao động về nhiệt độ về độ ẩm khí quyển nhỏ v.v... (Alikitiép- tài liệu đã dẫn). Đặc biệt là độ ô nhiễm không khí do bụi công nghiệp ở các vùng này rất thấp, do ở xa các khu công nghiệp, xa các thành phố có nhịp độ giao thông cao và, những vùng này đều là “vương quốc” của những rừng cây, nên con người được cây xanh che chở. Cây xanh tạo ra một vùng khí hậu được iôn hóa tốt lành cho các cư dận trong đó. Dân số các người tu hành theo đạo Phật, ở Á Đông, cũng có tuổi thọ cao. Đời sống của họ không phải chỉ đầy đủ về phương diện kinh tế mà còn có nhiều ưu thế về chỗ ở và có nhiều cây xanh tạo ra một vi khí hậu tốt. Khô ráo,thoáng khí, giàu Ôxy iôn hóa là môi trường khí hậu tốt cho tuổi già. Không thể sống lâu khi chỗ ở tối tăm, ám thấp, ô nhiễm vì bụi bâm, tiếng ổn và ánh sáng quá mức. Cây xanh là những nhà máy tự nhiên tạo ra lượng Ôxy được ion hoá trong khổng khí. Vì vậy mà ta thấy khoan khoái, dễ chịu, giảm hẳn những hiện tượng đau đầu, mệt mỏi, khi ta dạo mát trong một vườn hoa đầy cây xanh tươi tốt. Ngôi nhà ở cổ truyền dân tộc xây trên nền đất cao. ngoánh mặt hướng nam, có ao cá, vườn cây, có bờ tre bao quanh, rủng dừa bên bờ ao, hàng cây mít hay cây nhãn góc vườn, một gốc bưởi thơm, một gốc chanh bốn mùa xanh tốt, là cách bố cục hài hoà và có lợi nhất về mặt vi khí hậu và sinh thái đối với cuộc sống con người.

Môi trương sống ít bị ỏ nhiễm, ít yếu tố công kích tác động, sẽ làm giám những căn nguyên gây bệnh, giảm các bệnh nhiễm trùng, làm cho con người càng có nhiều khả năng thực tế kéo dài cuộc sống. Môi trương và sinh vật bao giờ cũng gắn bó một cách rất hữu ích cơ với nhau. Mối trường cũng chính là “yếu tố vùng” (environnement) đóng vai trô vô cùng quan trọng trong các vùng có mật độ các cụ lão niền cao. Yếu tố này đang được các nhà lão khoa hiện đại hết sức chú ý khảo sát. Trong đó có cả vấn đề các yếu tố vi lượng trong đất mà cây quả tiếp thu và truyền đạt cho con người thông qua nguồn thực phẩm tại chỗ.

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/10/nam-yeu-to-cua-su-song-lau-phan-4.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: lao hoa, uong nuoc dung cach


Read more…

Năm yếu tố của sự sống lâu (Phần 2)

16:29 |
Năm yếu tố của sự sống lâu (Phần 2)Có tác giả lại giái thích ràng: các ký sinh trùng thường trực đường ruột đã hấp thụ các chất cặn bã trong quá trình tiêu hoá, trong đó có các chất gây nguy hại cho cơ thể. Nhờ đó mà một sô' các chất có thể là căn nguyên gây nên các bệnh ung thư và xơ mạch bị loại trừ. K.V sinh trùng còn hấp thụ bớt những chất trung gian có thể làm phát sinh thêm các chất độc như hơi phenol, indol, SH2...; chính những chất này khuếch tán vào máu gây nên hiện tượng nhiễm độc nội môi. Có thể đó là những yếu tố đóng góp vào việc giữ gìn sức khoẻ các cụ vùng Equatơ xích đạo được bền vững lâu dài.

Về phần chúng ta, chúng ta không thể “di cư” đến các “ốc đảo” của tuổi già kể trên để mưu cầu sự lâu bền của cuộc sống. Chúng ta phải rút ra từ các công trình khảo sát đó những kết luận bổ ích. Dựa vào kết quả các cuộc điều tra và sự tham khảo ý kiến các nhà y học lỗi lạc, cho phép chúng ta đề xuất những kết luận bao quát sau đây:

1- Sự lao động liên tục làm cho con người trẻ và sống lâu

Đây là một sự thật không thể chối cãi. Huíeland, từ đầu thế kỉ 18 đã nói:

“Không có một kẻ lười nhác nào có thể sống lâu. Tất cả những ai đạt đến tuổi thọ cao đều có một lối sống hiểu động và bổ ích”. Hoa Đà thời xưa cũng có nhận xét tương tự “Then cửa không gỉ là vì mở luôn, nước giữa dòng không bẩn là vì chảy luôn; người ta muốn khỏe mạnh, sống lâu thì phải tập luyện và lao động”. Ngày nay, nhiều người thừa nhận một điều: mọi cơ thể sống, muốn tồn tại thì điều trước tiên là cơ thể đó phải hoạt động. Sự hoạt động tích cực, sự vận động tạo ra năng lượng cần thiết cho cơ thế, tránh được những sự đình trệ và ứ đọng- nguyên nhân của nhiều đầu mối bệnh lý. Thật là một sai lầm lớn nếu có ai muốn sống cuộc đời an nhàn, lười nhác để mưu cầu sự trường thọ. Điều đó sẽ dẫn đến kết quả trái ngược, vì nó gây nên sự trì trệ của bộ máy sinh học, thúc đẩy quá trình lão hóa.

Giáo sư Đanhialốp (LX cũ), khi nhận xét về tuổi thọ của những cụ già 100 tuổi ở vùng Dagextan, đã viết: “Chính vì quá trình lao động không ngừng đã làm cho con người ở đây trở nên mạnh khoẻ, rắn rỏi, kiên nhẫn, chịu đựng được mọi thiếu thốn”1. Theo nhiều thống kê thì 95% các cụ già từ 100 tuổi trở lên đều là nông dân lao động ở nông thôn và vùng núi. Nhiều người đã tham gia lao động từ 10-12 tuổi, đến 130-140 tuổi vẫn có thể cưỡi ngựa đi săn. Tóc nhiều cụ vẫn không bạc hết, răng tốt và chắc, trí nhớ minh mẫn, mắt tinh, tai thính. Điều đó lại thêm mệt bằng chứng nói lến tác dụng của lao động trong việc kéo dài tuổi thọ. Trong hàng ngũ những người lạo động trí: lỗị lạc cũng có nhiều người sống lâu, tuy không bằng các cụ lao động nông nghiệp nhưng tuổi cũng vàp loại.8Ọ trở lên, 100 tuổi trở xuống. Hầu hết là những cu, đã có những thành quả lao động lốm vệ trí óc. Nhiều qgười đến tuổi “đại lão” mà vẫn còn những cộng trình lao động sáng tạo qụý giá. Ví dụ:

*          Cụ A. Guéniot, Chủ tịch Viện Hàn lâm Y học Pháp, đầu thế kỉ XX, sống đến trên lơo tuổi. Lúc 99 tuổi, cụ còn viết cuốn “ Nghệ thuật sống lâu” nổi tiếng.

*          Giáo sư ic.l Platônốp, năm 85 tuổi, đã tu chỉnh va mở rộng một chuyên luận đặc sắc của ông, hhan đề: “Lời nói coi như yếu tố tâm lỷ:và trị bệnh”. Ông cũng sống vào loại các cụ trăm tuổi.

*          Vécđi sáng tác một vở nhạc kịch xuất sắc là vở “Phanstap” năm ông 80 tuổi, 

*          iyan Páplốp, ngay khi về già vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát, không có cái vẻ ỵếu đuối củạ các cụ già. Ông luòn luôn làm việc vắ học tập1. Năm 78 tuổi, sau khi mổ, Páplốp đã thí nghiệm ngay chính trên cơ thể mình để tìm nguyên nhân vì sao tim đập không đều. Năm 80 tuổi, ông còn bắt đầu nghiên cứu về tâm lý học một cách hăng say.

*          Xiônkôpxki, thủy tổ môn “du hành vũ trụ”, một ông giáo SU' trường làng suốt đời tự học và đã trở thành con người nổi danh của mọi thời đại và mọi dân tộc (Gôlavanôp), đã viết năm 74 tuổi: “ Ở vào tuổi tôi, nhiều người đã chết, nhưng vẫn chưa được biết rằng có một niềm sung sướng vỏ tân đang chờ đợi các bạn... Tôi muốn làm cho các bạn sung sướng khi quan sát vũ trụ... khi nghe kê về quá khứ và tương lai tuyệt vời của mỗi nguyên tử. Điều đó sẽ làm tăng thêm sức lực cho các bạn kéo dài cuộc sống, và truyền cho các bạn sức mạnh chịu đựng mọi sự ngang trái ở đời...”.

*          Harvers, năm 75 tuổi còn phát minh ra tuần hoàn máu.

*          Nhà vãn nổi tiếng nước Mỹ A. Azimốp cho xuất bản cuốn sách thứ 403 vào năm 1989 lúc ông 69 tuổi (sang năm 1990 ông tròn 70). Tuổi càng cao ông viết càng khoẻ. Trong những năm 50 ồng viết 32 cuốn. Trong thập kỷ 60 ông viết 70 cuốn: trong thập kỷ 70 ông viết 109 cuốn và trong 9 năm của thập kỷ 80 ông viết 192 cuốn.

*          Nghệ sĩ Pháp nổi tiếng Yves Mỏngtán tuyên bố: cuộc sổng của ông bắt đầu ở tuổi 67 khi ông sinh đứa cơn trai đầu lòng.

*          Nhà vãn Hécve Badin (Pháp) tháng 7/1989 tròn 78 tuổi tự đánh gía rằng ông đang ở độ sáng tạo sung sức. Vài năm sau ông cho ra cuốn “Con quỷ nửa đêm” và sau đó lai đang tiếp tục hoàn thành một tác phẩm mới.

*          Gustavơ Èpphen hoàn thành viêc xây dựng tháp Epphen nổi tiếng thế giới vào nám 1889 khi ông đã 67 tuổi.

*          Đại văn hào Vicỉò Huygó viết xong tác phẩm “Truyền thuyết của Các thế kỉ” khi ông 84 tuổi:

*          Nhà doanh nghiệp Nhật Bản Hitachi rúc 80 tuổi vẫn điểu hành công việc kinh doanh và người ta gọi ông là; “chàng thanh niên 80 tuổi”.

*          Nữ văn sĩ Úc, bà Min Humphơrây lúc 80 tuổi mới viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên nổi tiếng cho thiếu nhi, bán hết sau 2 tháng', ộ tuổi 8(5 bà đang viết cuốn tiểu thuyết thứ 3 của đời mình.;


*          Ổ nước ta cũng có nhiềụ gương sáng tạo lúc tuổi già:,,Cụ Phạm Khắc Hoè ở tuổi 85- 87 đã viết hai cuốn sách có giá trị là* các cuốn “Tù Triều Đình Huế đên chiến khu Việt Bắc” 0ỆỆỊỆ chuyện.-về vua quạn Nguyễn”. Năm 1989 cụ đã 89 tuổi vẫn có ý định viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử nữa. Nhà văn Đặng Thái Mai đã viết cuốn hồi ký có giá trị văn học cao ở độ tuổi 80. Cụ Vũ Ngọc Phan cũng hoàn thành một hồi ký văn học ở tuổi 83.

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/10/nam-yeu-to-cua-su-song-lau-phan-3.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: song lau, uống nước đúng cách
Read more…