Thận và hoạt động điều chỉnh nội môi (Phần 2)
Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014
2- Kiến
trúc vi thể của Thận
Nếu
chứng ta cắt một miếng thận nhỏ, chiều dài chừng l,5cm. rộng khoảng lcm, dày
0,5cm của bất cứ loài động vật có vú nào (chó, lợn, thỏ, chuột hay con người),
đem ngâm vào một dung dịch íòcmol 6% để cố định lại, để các thành phần cửa tế
bào khỏi bị tan rã do hiện tượng tự tiêu hoặc do sự phá huỷ cùa vi khuẩn. Sau đố
đem đúc miếng thận vào sáp paraíin, và sử dụng các phương pháp kỹ thuật đặc biệt
cắt ra thành những lát mỏng 5-7 micrồmét, rồi đem nhuộm bằng những kỹ thuật đặc
biệt và quan sát dưới kính hiển vi; ta sẽ phát hiện ra kiến tróc vi thể của thận.
Mỗi thận là một tập hợp từ 1,5 đến 2 triệu đơn vị giống nhau hợp lại. Những đơn
giống nhau này gọi là “ nêphron” (xem hình vẽ). Cấu trúc của mỗi nêphron gần giống
như một tuyến mồ hôi, vì vậy ngưòi ta .ví 1,5 triệu tuyến mồ hôi khắp cơ thể mỗi
người như “một quả thận thứ ba” (thành phần của mồ hôi cũng gần giống thành phần
của nước tiểu.
Mỗi
nêphron đều bắt đầu bằng một búi máo mạch cuộn tròn nằm trong một màng mỏng
hình túi gọi là cầu thận. Búi mao mạch này bắt đầu bằng một tiểu động mạch gọi
là "Tiểu động mạch vấo cầu", sau khi đã cuộn tròn lại trong cầu thận,
tiểu động mạch này đi ra bằng một nhánh khác cũng ở vị trí lúc đi vào gội là
"tiểu động mạch ra cầu".
Búi
mao mạch này nằm gọn trong một bao gồm hai lá màng cực mỏng có tinh chất
"siêu lọc" được gọi là "Cầu thận" đã nói ở trên. Nước tiểu
siêu lọc từ các búi mao mạch cầu thận được chảy vào trong khoang trống giữa hai
lá màng đó của cầu thận (tức giữa hai lá màng của bao nang). Nang này lại được
nối với một hệ thống Ống có nhiều đoạn khác nhau. Đầu tiên là một đoạn ống quanh
co gọi là "ống lượn gần ”, rồi đến một đoạn ống hình chữ ư có hai nhánh,
nhánh lên và nhánh xuống gọi là “quai Henlé”- tên tác giả đã tìm ra nó đầu
tiên- rồi lại đến một đoạn quanh co khác gọi là "éhg lượn xa Cuối cùng, nối
với một đoạn ống to hơn gọi là "ống chung”. Nước tịểu siêu lọc chảy qua suốt
chiều dài các đoạn ống đó, sẽ được các đoạn này thực hiện các phần việc đã được
“phân cổng”: tái hấp thụ lại các chất bổ, muối và nước; bài xuất thêm các chất
cần đào thải, cô đặc nưóe tiểu ban đầu để chề ra nước tiểu thực thụ cuối cùng
và thải ra ngoài. Những nêphron này tập hợp lại thành từng bó, nhiều bó hợp lại
thành một "Thùy thận"- mỗi thận có từ 10 đến 15 Thhy như thế. Nếu ta
đem tất cả các búi mao mạch cầu thận trải đều ra thì diện tích chúng chiếm đến
2 m2. Ta hãy tưởng tượng máu của cơ thể được đưa vào thận và được dàn mỏng ra
liên tục trên một diện tích như thế thì sẽ ỉậ điều kiện thuận lợi cho quá trình
siêu lọc thực hiện được tốt ở cầu thận. Quan sát lớp thành mao mạch này dưới
kính hiển vi điện tử, người ta thấy chúng như một màng mỏng và tinh vi. Ngoài lớp
màng cơ bản là một lớp tế bào mỏng đan thành hình lưới; giữa chúng CÓỊ những lỗ
hỏ rải rác do được khoảng 50 m 80 angstrom đường kính. Những lỗ nhỏ này như lỗ
của “chiếc sàng” chỉ đủ cho các chất có phân tử lượng nhỏ chui qua như các chất
axit amin đường glucoza, muối, nước, protein có phân tử lượng thấp, các chất độc
như urê, crêatinin, đạm cặn... Protein có phân tử lượng cao và các globulin
không thể qua được màng này; các phần tử hữu hình của máu như bạch cầu hồng cầu
cũng thế. Vì vậy, nước tiểu siêu lọc ban đầu, không có các tế bào máu, các phân
tử protein to và globulin, nhưng có nhiều chất bổ có phần tử lượng nhỏ như các
Axit amin kể trên. Khi đi qua hệ thống ống thận, các chất bổ được hấp thụ lại hết,
giúp cơ thể thu hồi lại các chất cần thiết.
Hệ
thống ống thận này nếu đem kéo dài ra và nối lại với nhau, thì dài tới 85km.
Chúng chia thành nhiều đoạn như đã miêu tả: đoạn nhỏ nhất, đường kính chỉ 20-
30 micrômét; đoạn lớn đường kính cũng chỉ đến 200 micrômét (ống chung).
Mỗi
đoạn ống có một chức năng riêng phù hợp với cấu trúc của nó (hình 15). Nước tiểu
ban đầu, khi đi đến đoạn cuối cùng của ống thì đã được cô đặc lại, chỉ còn lại
những chất độc, và các chất muối thừa phải thải ra. Nó trở thành nước tiểu thực
thụ chảy vào bể thận, xuống bàng quan và sẽ được thải ra ngoài.
Mỗi
nêphrôn có một kiến trúc đặc biệt, liên quan đến vấn đề tăng giảm áp lực động mạch:
đó là bộ máy “Cận cầu” mà người ta mới tìm thấy chúng trong vài chục năm gần
đây, nhưng đặc biệt chỉ mới được chú ý đến trong những năm sau này .
Như
đã mô tả ở trên, mỗi cầu thận có hai cực: cực mạch máu và cực nước tiểu. Cực mạch
máu là nơi vào ra của các "tiểu động mạch vào cầu" và "tiểu động
mạch ra cầu"; còn cực nứơc tiểu là nơi cầu thận nối với đoạn ống lượn gần.
Người ta chú ý thấy: đoạn ống lượn xa bao giờ cũng có một khúc nằm áp vào cực mạch
máu của cầu thận, tạo thành một tam giác nhỏ mà hai cạnh là hai tiểu động mạch
vào cầu và ra cầu, đáy là đoạn ống lượn này. Các tế bào thành ống lượn ở đoạn
này trở khối tế bào đặc biệt. Trên kính hiến vi điện tử và băng phương pháp mô-
hoá học, người ta thấy những tế bào này có hoạt động nội tiết rất mạnh. Chúng
vô cùng nhạy cảm với áp lực mạch máu của "tiểu động mạch vào cầu"
cũng như lưu lượng dòng máu qua đó. Chỉ một thay đổi nhỏ về áp lực trong khu vực
này cũng đủ làm cho các tế bào trong hệ thống này tăng cường hoạt động. Chúng
tiết ra chất rênin, chất này thấm vào dòng máu sẽ lập tức kích động hệ thống
men hypertensin, gây ra tăng huyết áp.
Mục
đích cuối cùng của cơ chế này là để tăng áp lực máu và lưu lượng dòng máu vào
thận. Vì vậy, nó nhậy cảm với mọi quá trình bệnh lý gây ra thiếu máu hay thiếu
oxy trong thận. Ở tuổi già, những quá trình viêm nhiễm tổ chức kẽ đã gây nên xơ
hoá, chèn ép vào tổ chức của bộ máy cận cầu; hoặc quă trình xơ mạch đã làm cho
lưu lượng máu vào thận bị giảm sút, gây nên hiện tượng thiếu oxy cho các tế bào
thận; đó là những căn nguyên kích động các tế bào vùng này tăng cường sản xuất
ra renin,'gây tăng huyết áp. Loại trừ sớm những căn nguyên bệnh thận từ lúc tuổi
trung niên là I một biện pháp quan trọng để giữ cho huyết áp lúc tuổi Ị già được
bình thường lâu dài. Đó là một trong những lý lẽ chống già cho căn nguyên bệnh
thận.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét