Quan niệm về"Thận" trong lý luận y học cổ truyền phương Đông
Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014
Khác
với y học hiện đại, danh từ “Thận” dùng để chỉ bộ phận chủ yếu của cơ quan bài
tiết nước tiểu, quan niệm về Thận trong y học cổ truyền Việt Nam và phương Đông
cho thận không những chỉ là cơ quan bài tíêt nước tiểu mà còn là một trung tâm
chức năng trong hệ thống chức năng hoàn chỉnh của cơ thể gồm năm trung tâm là:
tim, gan, tỳ, phổi, thận. Vì vậy, nếu cứ đối chiếu hai quả thận cụ thể trong giải
phẫu học hiện đại với quan niệm về “Thận” trong y học cổ truyền thì không thể
nào hiểu được.
Các
nhà Y học lớn Á Đông thời xưa thường đồng thời là những nhà Nho tinh thông Nho
học (Văn học) và Lý Số (tức môn Lịch toán và Thiên văn cổ), vì các môn học đó
liên quan chặt chẽ đến Y học. Do tình hình các mồn khoa học cơ bản thời cổ chưa
phát triển, nên các nhà toán học xưa thường đi vào nghiên cứu thiên văn làm lịch
hay nghiên cứu y học, dược học. Họ dựa vào những kiến thức toán học đương thời
để làm lịch, giải thích những mối liên quan phức tạp giữa cơ thể con người và sự
thay đổi của thời tiết bốn mùa, khi bình thường cũng như khi có bệnh.
Chúng
ta, những thế hệ con cháu ngày nay, hãy khoan loại bỏ tất cả những gì mà ta
chưa hiểu rõ. Trong những kiến thức cổ xưa về y học, lẫn lộn trong những điều
chủ quan, duy tâm và mê tín, có những điều bổ ích, đúng đắn đáng được chúng ta
quan tâm nghiên cứu và suy nghĩ dưới ánh sáng của những hiểu biết khoa học hiện
đại. Trong lĩnh vực y học, sự kế thừa phải là một cơ sở cần được quan tâm đúng
mực. Không một tiến bộ nào có thể phát triển nhanh chóng và vững chắc mà sự kế
thừa lại bị loại bỏ. Như trên ta đã khảo sát, người xưa quan niệm “Thận” là một
trung tâm chức năng đặc biệt quan trọng của cơ thể, nó bao gồm nhiều mặt hoạt động
của sự sống. Theo sự hiểu biết ngày nay thì không phải đó chỉ là nhiệm vụ của
hai quả thận mà còn có nhiều cơ quan khác tham gia, nhất là hộ nội tiết.
Cuốn
sách ý học cổ nhất của Trung Quốc là cuốn “Nội kinh Tố vấn”, trong chương nói về
thận, có ghi: “Con gái 7 tuổi thì thận khí thịnh, răng thay, tóc mọc dài; 14 tuổi,
thiên quý đên, mạch nhâm thông, mạch thái xung thịnh, lúc đó thấy kinh nguyệt,
cho nên có con; 21 tuổi thận khí đầy đủ, cho nên răng hàm mọc và thân thể lớn mạnh
hết sức; 49 tuổi mạch nhâm kém,mạch thái xung suy yếu, thiên quý cận, kinh nguyệt
không còn, cho nên thãn thể yếu đuối và không có con nữa. Con trai 8 tuổi thì
thận khí thực, tóc tốt, răng thay; 16 tuổi thận khí thịnh, thiên quý đến, tinh
khí đầy, âm dương hoà nên có thể có con; 24 tuổi thận khí điều hoà, gân cốt cứng
mạnh, răng hàm mọc, thân thể lớn mạnh hết sức; 40 tuổi thận khí suy kém, răng rụng,
tóc khô; 56 tuổi can khí suy yếu, gân mạch kém hoạt động, thiên quý khô cạn,
tinh khí ít, thận tạng suy yếu, thân thể hao mòn; 64 tuổi răng tóc rụng, ngũ tạng
suy yếu, gân xương rã rời, thiên quý cạn hết, cho nên râu tóc bạc, người nặng nề,
đi đứng không vững và không có con nữa”. Thế nhưng lại có đoạn viết: “Cũng có
người tuổi già mà vẫn có con, đó là người bẩm thụ tinh lực khác thường, khí huyết
kinh mạch lưu thông, thận khí dồi dào... Thận là nguồn gốc của tiên thiên”
Trong
thiên “ Lình lan bí điều luận”, sách viết “Thận là bộ phận làm cho cơ thể cường
tráng, sự khôn khéo do đó mà ra”. Thiên “Âm- dương ứng lượng đại luận” lại nói:
“Thận sinh cốt tuỷ, thận không sinh thì tuỷ không đầy”. Thiên ‘‘ Thuỷ nhiệt huyết
luận” nói: “Thận làm chủ phần thủy dịch của cờ thể, lại chu cả về "Hoả ở Mệnh
môn"... Thận là cửa ngõ của vị, cửa ngõ không thông thì nước tụ lại mà
sinh ra bệnh phù thũng”.
Xem
trong những điều ghi đó thì biết các học giả thời xưa cũng đã dày công quan sát
các hiện tượng bộnh lý về thận, xác lập mối liên hệ giữa các triệu chứng với
căn nguyên do thận. Sự quan sát ấy dĩ nhiên không thể rành mạch và vững chắc
như ngày nay, nhưng nó cũng có nhiều nhận xét xác đáng. Thồng qua ngôn ngữ y học
cổ, người xưa đã phát biểu về một chức nãng quan trọng của thận là “làm chủ phần
thuỷ dịch” của cơ thể. Không phải chỉ thấy thận ở chức năng bài tiết ra nước tiểu,
người xưa còn hiểu biết thận một cách bao quát hơn là “ làm chủ phần thuỷ dịch”.
Đây
rõ ràng là một cách nói lên chức năng chuyển hoá nước và điều hoà nội môi của
thận. Do quan niệm thận chủ về "Hoả của Mệnh môn” (chủ trì sinh mệnh của
cơ thể), vì vậy, bệnh nguy cốt phải “giữ thận”. Đó phải chăng là một nhận xét
sâu sắc về mối quan hệ giữa thận với hoạt động của các tuyến nội tiết. Nhất là
tuyến thượng thận trong việc duy trì huyết áp, nhịp mạch của tim cũng như chức
năng chuyển hoá các chất, để sản sinh ra năng lượng cho cơ thể như ngày nay ta
biết.
Quan
niệm về thận như trên đã phát triển thành hẳn một học phái trong lịch sử y học
Trung Quốc, đại diện là các danh y thời Kim Nguyên như Lưu Hoàn Tố(l 120-1200).
Các tác giả trên đã xây dựng lên lý thuyết về “Bổ Thận” (giáng tâm hoả, ích thận
thuỷ) hay là phái “Hàn lương”. Hải Thượng Lãn Ông của Việt Nam, trong cuốn
“Châu ngọc cách ngôn” của ông, viết: “Thận là cội nguồn của tạng phủ, là gốc rễ
của 12 kinh mạch; là cơ sở cho sinh mệnh; là bể chứa của tinh huyết, tinh thẩn
của tâm, khí của phế; sự quyết đoán của can đảm; sự thu nạp và vận hoá của tỳ vị;
sự truyền tống cửa đại- tiểu tràng; sự hoá khí của bàng quang; sự thăng giáng của
tam tiêu. Tất thảy đều phải nhờ vào một điểm “chân dương ” của thận làm chủ trì
”. Ồng lại viết: “ngũ tạng khi bị tổn thương, cuối cùng sẽ liên lụy đến thận...
Tất cả các kinh mạch đều băt nguồn từ thận. Gặp chứng hư yếu quá thì phải kịp
thời giữ gìn Bắc phương (vì Thận tương ứng với quẻ Khảm-trong Dịch học- ở
phương Bắc), để bồi đắp cho sinh mệnh. Vây thì chân “dương” có thể bỏ quên được
hay chăng?”1. Trong cuốn “ Y trung quan kiện” tác giả lại nói: “gặp chứng hư
thì kịp giữ thận để bồi bổ sinh mệnh. Đó thật là cái gương muôn đời soi sáng
cho chỗ mờ tối”. Cảnh Nhạc, nhà Y học cổ lỗi lạc của Trung Quốc, cũng nói:
“Dương tà đến cực độ thì ắt hại đến thận”. Thông qua những dẫn liệu trên đây,
chúng ta có thể hiểu một cách khái quát được quan niệm của người xưa về thuật
ngữ “thận” trong lý luận y học cổ truyền. Đó là một trung tâm gồm nhiều chức
năng chủ yếu của cơ thể, ít nhất bao gồm các mặt sau đây:
1. Chức năng bài tiết nước tiểu;
2. Chức năng điều hoà chuyển hoá nước, muối
và các chất điện giải, thăng bằng nội môi, như vậy ngày nay ta đã biết một cách
chinh xác hơn.
3. Chức năng chuyển hoá năng lượng, duy
trì các yếu tố cơ bản của sự sống như nhiệt độ cơ thể, mạch, huyết áp. Do đó,
coi thân là “mệnh môn”, có nghĩa là cửa ngõ của sự sống và là nguồn gốc của
kinh mạch; hoặc chủ trương “gặp chứng hư yếu quá thì phải kịp thời giữ lấy thận”,
cũng nằm trong quan niệm nay. Người xưa đã không tách hoạt động nội tiết của
tuyến thượng thận ra khỏi thận như ngày nay.
4. Chức năng nội tiết, điều hoà quă trình
sinh trưởng, phát dục của cơ thể, sự phát triển của xương, răng v.v... Chức
năng này liên quan đến toàn bộ hoạt động của hệ thống nội tiết: từ tuyến yên,
tuyến giáp và cận giáp đến tuyến thượng thận, buồng trứng nhu y học hiện đại đã
biết.
5. Chức năng sinh dục được người xưa quan
niệm là một mặt hoạt động của thân. Nhiều bệnh thuộc về bộ phận sinh dục được
coi là bệnh lý của thận và đều được chữa về thận.
6.
Cuối cùng, trong toàn bộ quan niệm của ngừơi xưa về thận, thấy toát lên một điều
lý thú là: xem vấn đề tuổi già, sự hoá già sớm là do thận suy yếu gây ra. Tuổi già,
thận tạng kém đi nện cơ thể hao mòn, răng tóc rụng, xương khớp đau mỏi, mắt mờ,
tai nặng. Trong suốt qúa trình hàng ngàn năm, y học cổ truyền đã luôn luôn tìm
kiếm những phương thuốc chống lại quá trình lão hoá hằng đường bổ thận, phục hồi
nguồn sinh lực cho người già; đề xuất ra nhiều bài thuốc khác nhau, trong đó có
nhiều bài co giá trị còn được lưu truyền cho tới ngày nay. Đây là một vấn đề mà
chúng ta nên để tâm suy nghĩ và nghiên cứu sâu hơn nữa.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét