Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 5)
Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014
3- Áp suất thẩm thấu của Nội môi
Như
ta đã biết, trong dịch gian bào, chất Natri là ion dương chủ yếu; chất Qo và
Bicacbonat là hai ion âm chính. Chứng quyết định từ 90 đến 95% áp suất thẩm thấu
của dịch gian bào. Hai ion Na+ và Q ' là thành phần của muôi ăn. Chất này lại
phân lý triệt để và cổ độ khuếch tán cao, nên nó quyết định đến 80% áp suất thần
thấu chung. Vì thế muối ãn hàng ngày đóng vai trò chù đạo trong sự thăng bằng
nước và điện giải của cơ thể. Nếu thiếu muối NaCl sẽ dẫn đến rối loạn chất điện
giải. Thiếu riêng ion C1 *' cơ thể có thể bù bằng ion C03H‘, nhưng thiếu Natri
thì sự thay thế bằng các ion đương khác như Ca+, K+,Mg+, sẽ bị giói hạn rất nhiều;
vì tăng nồng độ các ion dương ấy trong cơ thể đều có thể gây nên nhiễm độc, Áp
suất thẩm thấu của huyết tương người và của những động vật máu nóng đều tương
đương với một dung dịch muối Naơ 0,9%. Dung dịch đó dược gọi là “ dung dịch
sinh lý”i có độ đông băng là đelta =0,56° ,c (gọi là băng điểm). Độ hạ băng điểm
của một dung dịch tỷ lệ với áp suất thẩm thấu. Độ hạ băng điểm của huyết tương
loài máu lạnh (như ếch nhái) bằng đelta = 0,40°c, tương ứng với dung dịch 0,65%
muối NaCl, dung dịch đó là dung dịch sinh lý đối với loài ếch. (Đối với người
thì nồng độ đó lại là nhược trương). Đơn vị để đo áp suất thẩm thấu của một
dung dịch là “osmol” (viết tắt là osm) tức là áp suất thẩm thấu của một phân tử
gam một chất không phân ly (như đường glucôza) hoà trong một lít. Lúc ấy nó có
độ hạ băng điểm đelta= l,86°c, tương ứng vội 1 osm (cũng bằng một phân tử gam của
một chất ở thể khí chứa trong một lít, cộ áp suất là 224 atmotphe). Ở trong cơ
thể sinh vật, thường dùng đơn vị là một phần ngàn osmol, gọi là “miliosmol” (viết
là mosm).
Ở
người, áp suất thẩm thấu của huyết tương bình thường thay đổi trong khoảng từ
7,7 đến 8,1 atm tương đương với 344 đến 361,5 mosm. Đó là áp suất của dung dịch
0,9% muối Naơ (đelta = - 0,56°C), ta gọi là dùng dịch đẳng trương). Dung dịch
nào có áp suất thẩm thấu nhỏ hơn (đelta < -0,56°C) là dung dịch nhược
trương. Trái lại dung dịch có nồng độ muối cao quá 0,9% (đelta > 0,56°C), gọi
là dung dịch ựu trương. Để quan niệm được tầm quan trọng của áp lực thẩm thấu
trong các dịch sinh vật, ta nên biết thêm thí nghiệm các dung dịch có nồng độ
muối khác nhau trên hồng cầu người. Khi ta thả hồng cầu người vào một dung dịch
nhược trương (hay nước cất), hồng cầu sẽ trương lên và vỡ ra. Nguyên nhân do sự
chênh lệch về áp suất thẩm thấu giữa bên trong và bên ngoài hồng cầu, áp xuất
bên ngoài thấp làm chúng trương lên và vỡ màng: hồng cầu bị huỷ. Ngược lại, nếu
ta cho hồng cầu vào dung dịch muối có nồng độ cao hơn 0,9% hồng cầu sẽ bị teo lại
vì nước trong hồng cầu bị áp xuất mạnh bên ngoài kéo ra. Như vậy hổng cầu chỉ
có thể tồn tại với một áp suất thẩm thấu nhất định của môi trường xung quanh.
Do đó, các dung dịch tiêm truyền vào cơ thể, với khối lượng lớn bao giờ cũng phải
là dung dịch đẳng trương (ví dụ: dung dịch 0,9% muối NaCl và dung dịch 5,4% đường
glucoza).
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét