Già và bệnh
Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014
Định nghĩa về “cái già”
đã khổ, đi tìm căn nguyên của cái già càng khó hơn. Tại sao con người lại già đi?
Đó là câu hỏi đã làm cho nhiều học giả phải bận tâm. Nhiểu thế hệ các nhà
nghiôn cứu dã Bối tiếp nhau tìm kiếm, nhưng chưa có câu trả lời đức khoát.
Trong cuốn “bách khoa toàn thư” về y học phôt cập cua Liên xỏ có ghi: “Người ta
đã biết đến gần 200 giả thuyết vé bản chấit sinh học cốa sự hoá già” Nhà sinh học
Akimusơkin vỉết: “Như vậy thì y học ỉập tức đưa ra 200 điềư “tại vì” để giải
thích một điều “tại sao?1 cốí gì đã có quá nhiêu điều giải thích khác nhau như
thế thì chắc chắn chưa có sự giải thích nào đúng hẳn.
Hiện nay trong thực tế
ta rất khổ quan niệm “cái già” tách khỏi “cái bệnh”. Già và bệnh thường đí đôi
với nhau. Trước thời đại kháng sinh, chỉ cách đây chua đầy nửa thế kỷ, nguy cơ
chết ở người già phổ biến nhất là bênh viẽm phổi rồi đến các bệnh nhiểm trừng
khác. Trong thời đại kháng sinh ngay nay, các bênh nhiễm trừng bị đánh bại, người
già đờ được một nỗi đau khổ; nhưng các nguy cơ bênh lý khác lai tiên lẻn hàng đầu:
Nhồi máu cơ tim, xơ chai cơ tim, loạn nhịp tim, ung thư, xuất huyết não...thực
chất hai loại bệnh: Ung thư và vữa xơ động mạch ngày nay đang là hai mối nguy
cơ bệnh lý gắn liền vời tuổi già. Chiến đấu chống cái già bệnh lý để nâng cao
tuổi thọ con người, thực chất là chống hai loại bênh kể trên. Có nhiểu nhà bác
học coi hai loại bênh này chỉ là hai mật biểu hiện cửa một quá trình thống nhất
xảy ra ở người già: đó là quá trình thoái hoá diễn ra bên trong các tổ chức
sông. Ưng thư đặc trưng là sự sinh sản hỗn loạn của tế bào không chịu tuân theo
trật tự của cơ thể, là sự thoái hoá dương tính. Sự thoái hoá ấy tiến theo heớttg
tảng sểnh vò trật tự. Còn vữa xơ động mạch đăc tranglà nhũng màng vữa xơ hoá:
Trong đó cấc tếbào bị ĩhoắĩ hoá mỡ, bị bám đọng chất vôi, bị loét ra và thay thế
bằng tể dbớc xơt đó fà sự thoái hoá âm tỉnh. Nó không ỉàm cho số lượng tế bèo
tăng lên, mà ỉàm hao hụt dí. Càữgvới sự hao hụt vể khối lượng của não, của các
phả tạng khác khi vé già, sự thoái hoá đó chỉ là một Bệnh tật ềẵ gây nẽn một loạt
các loại tàn phế, đao đớn cho ogười già. Thống kê những căn nguyên gây nẽn nễỉ
đau khổ thục sự vé thể chất ờ 1900 cụ từ 65 tuổi tiờ lẽn, ồ bênh viện do chúng
tôi theo rõỉ từ 1976 đến 2000 cõng đã thấy có tới 63 loại (khổng kể những loại
chưa gặp trong khoa):
Về mắt:
1. Mờ mắt do giảm thị lực, do Viễn thị, loạn
thị
2. Tăng nhãn áp (Gỉãncocne) gầy nhúc đầu.
3. Đục nhân mắt.
4. Hiện tượng “ruổi bay** do xuất huyết
võng mạc.
5. Viêm thị thẩn kình.
Về tai:
6. Điếc do xơhoá tai trong, xơ màng nhỉ.
7. Ù tai, “ve kêu", do thiếu nuôi dưỡng
thần kinh tai trong
8. Hỏi chứng tiển đinh do xơ hóa tai
trong. 4 líl về răng, miệng:
9. ưng thư vòm miệng.
10. Sâu răng, viêm quanh răng.
11. Mất nhiều răng, làm cho ăn uống khó khăn.
Về xương khớp:
12. Viêm nhiều khớp biến dạng tiến triển.
13. Viêm khớp mãn dạng thấp.
14. Thoái khớp.
15. Đau lưng thường xuyên do gai nặng các đót
sống lưng.
16. Gây xương do hiện tượng loãng xương tuổi
già.
17. Nhức mỏi trong xương do thưa xương, do loạn
dưỡng.
18. Ư xương, viêm xương tuỷ do nhiễm trùng.
Về tâm thần lanh:
Nhiều nhất là các loại
tai biến cùa xơ vữa động mạch:
19. Đau đầu do cao huyết áp
20. Mất ngủ và khó ngù.
21. Quên nhầm, trí nhớ giảm sứt.
22. Ló lẫn.
23. Suy nhược thần kinh.
24. Suy nhươe tâm thần.
25. Hoang tưởng.
26. Ảo giác.
27. Liệt nửa người do di chứng chảy máu hão.
28. Co thắt động mạch não gây yếu nừa người.
29. Mất ngôn ngữ do tạỉ biến m/ máu não.
30. Teo cơ.
31. Viêm dây thần kinh hông to.
32. Viêm các rễ dây thần kinh thất lưng.
33. Nhũn não.
34. Co giật kiểu “Parkinson”.
Về tim mạch:
35. Cơn đau thát ngực do thiếu máu cục bô cơ
tim.
36. Nhồi máu cơ tim.
37. Loạn nhịp ngoại tâm thu nhiểu ổ.
38. Cơn mạch nhanh kịch phát.
39. Suy
tim ca c muw MV
40. Viêm tắc tĩnh mạch.
41. Tâm thế mãn.
Về phổi:
42 Viêm phế quản mãn
tính ờ ngừơi già.
43. Giãn phổi, xơ phổi.
44. Hen suyỗn.
45. Lao phổi người già (có xu hướng tàng tèn
những năm gần sđây).
46. u phổi, Abcès phổi.
Về tiêu hoá:
47. Chán ăn do viêm dạ dầy giảm toan, do viôm
teo
niêm mạc dạ dày.
48. Rối loạn tiêu hóa các mức độ.
49. Ư ác dạ dày.
50. Sỏi gan mật.
51. Xơ gan người già (do rượu, do viêm gan B
cũ).
52. u gan.
Về Thận - Tiết Niệu:
53. Đái đêm nhiều lần.
54. Đái buốt, đái dắt do viêm bàng quang, viẽm
tuyến tiền liệt.
55. Bí đái do ủ, do sởi, do viêm.
56. Viêm thận bể thận người già.
57. Ư thận.
58. Suy thận do các loại bệnh Thận cũ, không
được theo rõi chu đáọ.
Bệnh đa và cấc tổ chức
tiện kết:
59. Khô da viêm da người già.
60. Thoái hóa do xơ cứng bì.
61. Lở ngứa do dị ứng vô căn người già.
62. Tổ đỉa tái phát, nấm da chân tái phát lốc
già, gây lở ngứa nặng.
63. Quá cảm da vô căn gây đau buốt khi va chạm.
Đố là do trạng thái
bênh lý mà chúng tôi ghi nhận được trong 1900 bệnh án của các cụ từ 70 tuổi trở
lên (từ nâm 1976 đến năm 2000), đã gây nên những nôi đau khổ thật sự cho ngưòì
già, Từ xưa đến nay người ta quan niệm “cái già” gắn liền với “cái khổ”. Vậy chống
những cái đau khổ xảy ra cho tuổi già, trước tiên là phải chổng một loạt bệnh của
tuổi già. Hai căn nguyên tim mạch và ung thư là hai khu vực lớn nhất gây nôn
tàn phế. Cổ đến 86% sổ' trường hớp nam giới và 83% số trường hợp nữ giới bị tàn
phế rơi vào tuổi trên 45. Dưới 45 tuổi, căn nguyên gây tàn phế hầu hết là do
lao1. Ngoài ung thư các bệnh hay gập nhất ở người già thường quy tụ vào bốn khu
vực:
1. Bệnh ở khu vực động mạch não.
2. Bệnh ỗ khu Vực động mạch vành tim.
3. Bệnh ở khu vực bộ máy hô hấp.
4. Bệnh ở bộ máy tiết niệu.
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét