Già và chết (p1)
Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014
(Chỉ có ai không sống là
không bao giờ chết mà thôi)
Nghiên cứu cái già khổng
thể không nói đến cái chết. Già bao giờ cồng tận cùng bàng cái chết. Báo hiệo
cho cái chết sẽ tới- hoặc gần hoặc xa- chính ià cái già. Nó xuất hiện mỗi ngày
một rõ theo thời gian. Người ta cho rằng cái mầm của sự chết vốn đã nằm sẵn
trong sự sống, trong từng tế bào. Nó lớn lên theo nhịp điệu thờậ gian, không có
gì cản nổi, và nổ báo hiệu ra ngoài bằng cái già. Già và chết tuy là quý luật của
sinh vật, thuộc vào một quá trình hoàn chỉnh, bắt đầu từ lúc sinh ra vi kết
thúc bằng cái chết, nhung chua mấy ai được chết đo già thực sự. Phải chăng nền
vãn minh rục rữ cùa loài người hiện nay vẫn chưa đù sức đẩy lòi cái già bệnh
lý, và cái chết “bất đắc dĩ’ vẫn cứ đến lôi am người đi, khi tuổi đời chưa thỏa
đáng, mặc dầu đã 70 hav 80? Vậy thì cái chết do già thực thụ là gì? Nhiều nhà
lão học sinh ỉv học cho rằng già tự thiên sẽ dẫn đến cái “chết sinh lý” tức là
chết từ não, từ bộ thần kinh trung ương. Cái chết ấy do sự hao hụt của chất
não, một sự hao hụt không tránh khòi, trải qua năm tháng của cuộc đời gây Bẽn.
Nó như một “ cổ máy” liệt dần do những “hao mòn hợp lý” của thời gian. Nó không
đem lại những nỗi đau đớn bênh lý cho sinh vật. Chúng tôi đã có dịp chứng kiến
cái chết đến với cụ Hà Vãn Quận năm cụ 128 tuổi (nguừi cao tuổi nhất nước ta
sau thời kỳ cải cốch ruộng đất ở miền Bắc. Lúc ấy, bệnh viện chứng tồi có một
chuyên gia y tế Hungari là bác sĩ Nagy còn làm vìêc (Bệnh viện 303 cũ)).
Chúng tôỉ cống chứng kiến
cái chết đến với “bệnh nhân” yên tĩnh như “một giấc ngủ say”. Các thầy thuổc không
tìm thấy một dấu hiệu bệnh lỷ nào xây ra trong phủ tạng bệnh nhân: não không có
dấu htêu chầy mấu, tim không có dấu hiệu tổn thương. Bệnh nhân sau một đêm ngủ
rồi lịm dần, tim đập thưa thớt cho đến khi ngừng hẳn. Không một biện pháp hô hấp
nhân tạo nào, một liều oxy hay mũi tiêm truyền “ hổi dưỡng sinh mạch” nào có thể
hồi phục được “bệnh nhân”. Hình như toàn bộ cơ thể đểu diễn ra theo nhịp độ hao
mòn chung, cùng một lúc lịm xuống và chấm dứt một cách yên tĩnh. Hiếm có một cầi
chết nào đến tương đốì đổng đểu và yên tĩnh như thế.
Nghiên cứu cái chết của
tế bào, người ta thấy cố nhiều điểm khác cái chết của toàn bộ cơ thể. Đối vội tế
bào cái chết bắt đầu từ một điểm mà mọi quá trinh không thể đảo ngược dược. Từ
điểm không hồi phục ấy, cái chết lan ra từ từ tới toàn thể tế bào. Các enzymc của
tế bào được giải phóng ra vầ công phá bản thân tế bào, dẫn đến sự tự tiêu. Vi vậy,
tế bào đã chết sẽ nhanh chóng bị phá hỏy. Trong một cơ thể đa bào có kiến trúc hoàn chỉnh, cái chết cỗa
tùng tế bào riêng lẻ diễn ra thường xuyên đó ỉầ những hiện tượng sinh lý bình
thường. Một tế bào chết không thể dẫn đến cái chết cùa toàn cơ thể. Nó không phải
là một điểm “không hổi phục" của cơ thể. Người ta ước đoán mỗi ngày cơ thể
con người có tới 700 triệu tế bào chết đi, bao gồm: Các tế bào máu, tế bào,
niêm mạc dạ dẩy, ruột, đường tiết niệu v.v... Chỉ riêng hồng cầu, mỗi ngày đã
có tời 200 triệu tế bào chết đi và được thay thế bằng những tế bào mới. Claude
Bemard đã nói: “khi sống thì các tế bào cùng sống chung, nhưng khi chết thì
chúng chết riêng rẽ”. Trong một cơ thể đa bào, sự sống ỉà sự hợp tác chặt chẽ,
hài hòa, cùa nhiều cơ quan, bộ phận và tổ chức khác nhau. Cái chết là hâu quả của
trang thái tan rã trong sự hợp tác đó: khi mà một bộ phận này có trách nhiệm sống
còn vói toàn bộ cơ thể lại không đảm đương được hoặc vì lý do nào đó gây đình đốn,
làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến bộ phận khác hay toàn cơ thể. Có khi sự tan rã
đó xẩy ra quá sớm, chưa đáng có. Cái chết cùa một cơ quan (hay một vùng tổ chức
cùa cơ quan) có thể gây nên tình trạng tan rã trong sự hợp tác chung, giữa lúc
các cơ quan khác chưa đang chết. Chúng bị đặt vào sự tan rã chung trong khi
chúng còn đầy sức sống. Điều đó gây nên cái chết không đồng đều ò các cơ quan cỏa
cơ thể. Chính đó là điều ta cân nghiên cứu và là căn cứ đế con người có thể đẩy
lùi cái chết. Con người có thể dùng trí tuệ còa mình dế tái lập lại sọ hợp tác
giữa các cơ quan, phủ tạng của cơ thể, khi cái chết xuất phát từ những vàng bệnh
lý nhỏ gây nên cho toàn thể: Nhữ trường hợp tắc nghẽn động mạch vành tim, xơ vữa
một vùng đông mạch não, một ổ hoại tử ở thân w...
Ỏng cha ta từ ngàn nãm
thời cổ, khi chưa hiểu thấu được nhiều cơ chế bệnh sinh, cũng đã dựa theo những
khả năng tư duy trừu tượng sẩn có của con người dể dự đoán một cách hợp lý rằng:
Cái chết là kết quả của sự mất thảng bằng không hồi phục của “âm dương”, dẫn đến
sự rối loạn trong sự điều chinh của “ngũ hành” gầy ra. Mọi phương án chống già
đẩy lùi cái chết của người xua cũng đều nhằm vào việc “hồi phục âm-dương”, thuận
theo hoạt động của “ngũ hành”, hợp vói quy luật của tạo hoá.
Xem thêm:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét