Các phương dược cổ đại

14:57 |
Rượu Trường thọ Romarín vở nước quà Cassìs:
Các phương dược cổ đại

Chúng ta đã điểm qua những khái niệm về “thận” trong nền y học cổ truyện Á Đông và quan niệm “già do thận” của học giả thời cổ. VỊ vậy, chúng ta không lấy làm lạ khi khảo sát các thuốc “chống già” thời xưa phần nhiều đều là những phương thuốc được gọi là “Bổ Thận”.

Những bài thuốc”bổ thận, chống già’’ thời cổ đại không phải chỉ có ở Phương Đông mà ngay cả những bài thuốc cho người già ở thời La Mã hay thời trung cổ Ai Cập, theo sự hiểu biết ngày nay, đều là những loại thuốc cố tác dụng lợi tiểu nhẹ và thông mật, chống táo. Nhiều nước phương Tây sau này vẫn còn dùng một số vị. Ví dụ: rượu Romarin- còn có tên là nước của Hoàng Hậu Hunggari. Rượu “Trường Thọ” cổ điển của Pháp chế từ cây Aloès, nước quả “sống lâu Cassis", một loại quả mà ngày nay người ta biết có nhiều vitamin c (160mg/100g quả) và giàu các yếu tố khoáng như K, Mg, Ca. Tất cả các loại trên, ngày nay người, ta biết, đều có tác đụng lợi tiểu và thông mật,chống già “Theriac” của Phấp nổi tiếng một thời là một chế phẩm gổm một tập hợp nhiềụ dưọe liệu bổ, kích thích tièu hóa, chống co thắt, đã được người già ca ngợi và ưa dùng.

Phương thuốc Nhân Sâm:

Y hóc cổ đại Á Đông đặt nhiêu tin tưồng và rễ cây “nhân sâm” (Panax gínséng), cho đến ngày nay nhiều hgưòti vẫn sùrig bầi. Người ta đó là'vị thuốc của “trường thọ”. Nó có thể đem lại ở con người sức khỏe và những “năng lực kì lạ”. Nhưng giá trị của cây nhân sâm còn nằm trong phạm vi truyền tụng, vẫn còn nhiều bí ẩn và những công trình thực nghiệm về nó vẫn chưa đưa ra được những dẫn chứng chắc chắn có sức thuyết phục. Để tìm hiểu nó, có nước đã huy động cả một viện nghiên cứu tiến hành khảo sát hàng chụe năm (LX. cữ). Tuy nhiên, vẫn chưa khẳng; định được giá trị đúng với sự hâm mộ của nhân dân. Người ta chỉ thấy trong nhân sâm có những loại vitamin B) %£; những hoạt chất có tác dụng như Hócmồn nữ (foliculin) cùng các chất Yohimbin, Cantharidin... và đặc biệt một dẫn xuất của chất Saponin uống nhiều có thể gây hoại huyết, gần giống một trong những chất saponin có trong quả bồ kết của ta. Trên thực nghiệm, người ta thấy nó có tác dụng trợ tim nhẹ, điều chỉnh một số chức năng trên chuột cái đã cắt bỏ buồng trứng. Những “tác dụng kì lạ” làm cho con người trẻ dai chậm già như lời đồn đại thì chưa thấy. Tác dụng chống vữa sơ động mạch của nó cũng chưa có tài liệu thực nghiệm nào chứng minh một cách chắc chắn. Còn nếu sống 60-70, thậm chí đến 80 tuổi thì con người chẳng cần đến loại rễ cây quá đắt tiền và khó trồng này mà vẫn đạt tới được. Dùng dài ngày nước hãm nhân sâm, thấy bệnh nhân bị trạng thái kích thích thần kinh kiểu "quá sảng" (euphorie) và phát sinh hiện tượng thiếu máu, nguyên nhân nghi do tác dụng hoại huyết của dẫn xuất saponin gây ra.


Tại bệnh viện Việt-Xô, từ những năm 1962 đến 1975, chúng tôi đã có điều kiện dùng nhân sâm thử điều trị cho những bệnh nhân bị suy gan ở giai đoạn cuối (những b/n cao cấp có tiêu chuẩn lúc đó), đều thấy không có tác dụng. Cũng đã thử điều trị cho một số trường hợp ung thư gan, hình như nó kích thích các tế bào khối u phát triển, nên đều thấy khối u to lên nhanh hơn so với những trường hợp không được uống. Trong suy thận toàn bộ do viêm thận mãn và do xơ hóa hệ mạch thận, điều trị bằng nhân sâm kết hợp với chế độ ăn giảm đạm, thấy nó kéo dài được đời sống người suy thận ra thêm một thời gian đáng kể, chỉ tiếc là quá tốn kém. Cơ chế tác động của nó chưa được giải thích rõ. Theo một số tác giả Âu- Mỹ nghiên cứu tác dụng của nhân sâm, thấy nước chiết xuất của nó có tác dụng làm giảm sự thoái hóa các tế bào do phóng xạ gây nên, vì vậy Nhân sâm được khuyên dùng trong những tai biến phóng xạ.

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2015/02/cong-thuc-levitan-cua-khoa-than-benh.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: bí quyết sống lâu, uống nước đúng cách
Read more…

Uống nước đúng cách để thanh khiết cơ thể

14:56 |
Đây là một vấn đề thông thường nhưng lại rất quan trọng, liên quan đến việc bảo vệ sức khỏe lâu dài mà còn nhiều người chưa chú ý đúng mức, vì chưa hiểu hết tác dụng của nó. Nhiều vấn đề tưởng như phức tạp và khó hiểu nhưng có khi lại được giải quyết tốt bằng biện pháp đơn giản đó. Vài chục năm trước đây đã có người xướng lên thuyết "uống nước thật nhiều mỗi sáng sớm có thể chữa được bách bệnh" (dĩ nhiên thuyết này chỉ dựa trên suy đoán chủ quan). Nhiều người già lúc đó không suy xét kỹ đã vội thử cho chính mình, uống đến hàng lít nước một lúc vào buổi sáng; có người suýt mất mạng vì cơn suy tim, cơn cao huyết áp xảy ra đột ngột sau khi uống một lượng nước quá lớn. Có thể sẽ là điều hợp lý và có lợi nếu ta sửa đổi lại thuyết quá khích trên thành: "uống mỗi sáng một cốc 200ml nước- một lượng nước vừa phải- là một phương pháp tốt", vì có thể giúp cho sự bài tiết được dễ dàng, tạo thuận lợi cho quá trình thay đổi cũ mới, chống táo, chống độc v.v...
Uống nước đúng cách để thanh khiết cơ thể

Dầu sao trước hết là phải hiểu biết nhu cầu của cơ thể về nước hàng ngày và phải biết cách uống thế nào cho đúng. Trong trạng thái sinh lý bình thường, ở nhiệt độ mối trường khoảng 20- 25°c, một người lao động trí óc trung bình (một bác sĩ ở buồng bệnh nhân hay một cán bộ nghiên cứu nghiệp vụ thông thường) mỗi ngày cần từ 1,5 đến 2,0 lít nước tùy theo cỡ người to nhỏ (trung bình là 1,7 lít) cho 24 giờ.

Lượng nước ấy một phần đã có trong thức ăn, trong rau, quả, cơm, canh... Lượng nước mỗi người cần uống thêm hàng ngày từ 1,0 đến 1,2 lít.

Làm việc nơi nóng nực về mùa hè, khi ra mồ hôi nhiều, khi làm việc nặng đều cần đến nước nhiều hơn. Về mùa lạnh ít ra mồ hôi, làm việc nhẹ thì cần ít nước hơn đôi chút. Tuy nhiên, một người lớn làm việc bình thường, mỗi ngày không nên uống ít quá 600ml. Tốt nhất là nên uống đúng số lượng nước như đã tính trên. Đó là chưa kể đến những biến cố thường ngày diễn ra trong dời sống mà luôn luôn ta phải đối phó như: khi viêm nhiễm đường tiết niệu, khi sốt cao, ỉa lỏng; ăn phải chất độc trong sắn, trong dứa; khi bị dị ứng thuốc v.v... Tóm lại, đó là những lúc mà con người cần một chế độ lợi tiểu hơn là cần đến thuốc: ta nên tăng lượng nước uống vào, có thể dùng dưới hình thức nước chanh, nước hoa quả, bia, nước chè loãng (ít đưòng)... để giúp cơ thể đào thải chất độc được dễ dàng. Ai cũng biết, trong những trường hợp trên, nếu hàng ngày đi tiểu được nhiều thì bệnh nhanh chóng lành, người chóng khỏe. Biết uống nước đúng, chẳng những biết tránh những thức uống có hại mà còn phải biết tăng giảm theo nhu cầu khi trạng thái sức khỏe thay đổi. Không ai tăng lượng nước uống khi đang bị phù nề, đang cơn cao huyết áp hay đang bị suy tim. Ngược lại không ai giảm lượng nước uống khi cơ thể đang bị mất nước do ỉa chảy, do nôn mửa nhiều hoặc do sốt mà nước tiểu vàng, đặc v.v... Uống nước đúng và đủ không có nghĩa là uống một lúc một lượng nước rất lớn (hàng ca to hay hàng lít), mà phải uống làm nhiều lần trong ngày, mỗi lần một lượng vừa phải. Khi đi nắng, khát nước nhiều, cũng không nên uống một hơi thật nhiều cho "đã khát". Uống quá nhiều nước một lúc (như uống ba, bốn vại bia một lúc) sẽ làm tăng đột ngột lượng nước lưu thông trong máu gây nên trạng thái "quá tải" của tim có thể gây dãn cơ tim hay cơn cao huyết áp đột ngột. Đối với những người vốn có sẵn bệnh tim hay cao huyết áp thì tình trạng đó có thể gây nên suy tim đột ngột, đe dọa đến tính mạng. Uống quá nhiều nước có hại đã đành, song thói quen uống ít nước cũng là không hợp vói chế độ vệ sinh bảo vệ cơ thể. Nó dẫn đến sự tăng cao nồng độ các chất có hại trong nước tiểu, bao giờ tỷ trọng nước tiểu cũng tăng cao, có thể lắng đọng trong bể thận, trong bàng quang, gây nên sỏi ở các bộ phận đó. Đó là chưa kể những hậu quả xấu cho cơ thể do sự đào thải các chất cạn bã vì thiếu nước nên ứ đọng lại gây nên.


Uống nước đúng và đủ là điều kiện trước tiên giúp thận hoạt động bình thường, là điều kiện không thể thiếu để bảo vệ sự hằng định và thanh khiết môi trưòng bên trong cơ thể. Người xưa chú trọng đến sự bài tiết của thận lúc tuổi già, đến vấn đề "bổ thận thủy" để làm tăng tuổi thọ; đó là một điều suy đoán, tuy chưa được chứng minh nhưng cũng hợp với lẽ phải.

Read more…

Loại bỏ các ổ nhiễm khuẩn đa phương tính là điếu cần thiết

14:56 |
Loại bỏ các ổ nhiễm khuẩn đa phương tính là điếu cần thiết Khảo sát các căn nguyên gây viêm nhiễm ở thận, người ta đã thấy vai trò của các ổ nhiễm khuẩn địa phương rất quan trọng. Nhiều trường hợp viêm thận xảy ra do trước đó bệnh nhân bị viêm mủ chân răng kéo dài, viêm Amiđan hoá mủ; viêm Tai giữa; viêm Xoang trán, Xoang má; viêm Ruột thừa, Túi mật v.v... Vì vậy, bảo vệ hai thận, phải sớm chữa hoặc loại bỏ các ổ viêm nhiễm khuẩn cục bộ kể trên nếu có. Vi khuẩn từ các ổ viêm nhiễm đó có thể theo dòng máu qua thân. Đến các phủ tạng khác như gan, lách, phổi... vi khuẩn dễ bị tiêu diệt, vỉ bản thân máu đã có các yếu tố diột khuẩn, lại thêm sức tự vệ của các phủ tạng trên thông qua những phản ứng “kết hợp bổ thể” diễn ra rất mạnh trong các phủ tạng. Nhưng khi vi khuẩn đã lọt vào thận thì một sô' lại có khả năng sống sót, bởi vì trong Thận không giống các phủ tạng khác, Thận không có tổ chức ‘Tưới nội mồ” là một tổ chức bảo vộ cơ thể. Mặt khác, trong Thận lại thiếu cả phản ứng “kết hợp bổ thể”, vì phản ứng nay bị hoạt động khử amin của thận ức chế. Chỉ cần một số lượng nhỏ các vi khuẩn E. Coli, Proteus, hay Enteroccus sống sót được trong thận là chúng sẽ phát triển nhanh chóng, tạo thành những ổ tổn thương bệnh lý ở thận.

Nhiều học giả đã tiến hành thực nghiệm trên súc vật về tác hại của vi khuẩn qua thận, cho biết: khi thận đã có chút ít tổn thương, nhất là tổn thương do tắc nghẽn gây nên, thì chẳng những vi khuẩn sống gây tác hại mà ngay cả vi khuẩn chết cùng với những độc tố của chúng cũng có thể gây nên những tổn thương khi qua thận. Khi đem tiêm vi khuẩn đã được giết chết bằng nhiệt độ vào dưới da hay vào mạch máu những con chuột thí nghiệm, chuột sẽ xuất hiện những tổn thương ở thận do những độc tố của các vi khuẩn đó gây nên. Liên hệ trong thực tế, chúng ta rút ra một nhận xét: những thức ăn để lâu đã bị ôi thiu, lượng vi khuẩn trong các thức ăn này đã gia tăng nên dù ta có đem đun nấu lại thì lượng độc tố của chúng vẫn còn sẽ gây nguy hại cho hai thận khi ăn những thức ăn đó vào, nhất là đối với thận già.
Bảng thống kê trên cho chúng ta thấy kết quả của những cuộc quan sát thực nghiệm về các loại tổn thương do vi khuẩn và độc tố của chúng gây ra cho thận (theo Klaus o. Rother)1. Theo thống kê dưới, chúng ta thấy hầu hết các trực khuẩn đường ruột và các cầu khuẩn thường găp đều gây nên tổn thương thận khi qua thận.

Bang thống kẽ kẽt quả thưc nghiệp trên súc vật vi khuẩn gây bệnh được tiêm vào 
súc vật  
   Thí nghiệm      loại tổn thương   Thận                   Tác giả             năm
Streptococus
Scarlatus          Thỏ                  Viêm cầu thận                Duval và Hilbard     1926
Streptococus
Viridans          Thỏ                  Viêm cầu thận             MacLeod+ Finne:       1932
Streptococus
Hemolyticus    Thỏ                  Viêm cầu thận                         Lukens+          1931
Mirabilis          Chuột              Viêm cầu thận lan tỏa             Wood + White:1953


Trừ các ổ nhiễm khuẩn cục bộ, chữa sớm các bệnh đường ruột và tránh các thức ãn để ôi thiu là những biện pháp quan trọng hàng ngày, cần chú ý, để bảo vệ thận và giữ vững sự trong sạch của nội môi.

Đọc thêm tại: http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/11/cac-phuong-duoc-co-ai.html




Từ khóa tìm kiếm nhiều: lao hoa, uong nuoc dung cach
Read more…

Công thức Levitan của khoa Thận Bệnh viện Việt Xô(2)

12:22 |
Cho lên men trong dung dịch bột 10%- 3 ngày là phương pháp gia tăng nhanh chóng và tối đa sinh khối men. Khi pH=3 là lúc môi trường men có chất lượng tối đa, men bị ức chế không sinh sản thêm được nữa và độ chua của môi trường gần giống như sữa chua có tác dụng tốt cho đường ruột. Lúc đó trong môi trường, lượng rượu do men sinh ra đã được chuyển một phần thành dấm và các axit hữu cơ khác, phần nhỏ rượu còn lại sẽ bị bay hơi trong qúa trình sấy hấp khi làm cốm.
Công thức Levitan của khoa Thận Bệnh viện Việt Xô(2)

Môi trường nuôi men rượu có độ pH 3 là một dung dịch bổ dưỡng. Chúng tôi đã đem phân tích môi trường này, thấy có gần đủ các vitamin nhóm B. Thuỷ phân dung dịch này trong 12 giờ bằng HC1- 1/3 N, rồi đem sắc ký trên giấy; thấy có gần đủ các loại axit amin quý. Dung dịch men có pH 3, để tươi, đóng trong chai để trong điều kiện bình thường trong phòng 12 tháng: dung dịch vẫn có mùi thơm rượu nếp, không mọc tạp khuẩn, nuôi cấy thấy vô trùng. So sánh vói môi trường dung dịch rượu 10° và dung dịch dấm ăn để trong điều kiện như trên để đối chiếu, thấy hai dung dịch này, sau thời gian trên, đều bị hỏng (do tạp khuẩn và nấm mốc). Chúng tôi đã dùng dịch trên cho 15 cháu nhỏ từ 1 năm đên 3 năm tuổi (ở tập thể) bị rối loạn tiêu hoá lâu ngày không khỏi, biếng ăn. Cho các cháu uống mỗi ngày từ 20 đến 40 ml dung dịch men tươi (pH 3) chia làm 2 lần trong ngày; đều thấy bệnh hết sau 3 đến 5 ngày, phân trở lại bình thường nhanh chóng, các cháu ham ăn hơn. Điều trị liên tục 15-20 ngày, tất cả các cháu đều thể hiện tình trạng dinh dưỡng khá hẳn lên, sức khoẻ hổi phục nhanh.
* Sesamum indicum ỉinn (vừng): Trong kinh nghiệm lão khoa cổ truyền, thường dùng vừng đen, nhưng theo chúng tôi, có thể dùng vừng vàng. Đây không những là một nguồn chất đạm bổ sung vào khẩu phần ăn người già (trên 20% trong vừng) mà còn là nguồn cung cấp hệ các Axit béo chưa no; trong đó có cả nhóm được ký hiệu là vitamin F, rất cần cho hệ thần kinh và cho sức đề kháng cũng như cho việc đề phòng xơ vữa động mạch tuổi già.

Thành phần trong vừng (theo Gs. Đỗ Tất Lợi):

* Nước            : 5-6%
* Chất dầu      : 40-55%
* Chất đạm      : 20-22%
 * Tro   : 5% (có l,7mg % Cu, 1% Canxi-oxalat)


Ngoài ra, còn từ 6,3 đến 8,8% chất không chứa nitơ, Pantozan, Lexitin, Phytin và Cholin. Trong vừng còn có chất Sesamin, cỗ công thức CnH12 O3 và một số chất Phenol gọi là Sesamol, chưa rõ tác dụng.


Đọc thêm tại:

Read more…

Công thức Levitan của khoa Thận Bệnh viện Việt Xô(3)

12:22 |
Công thức Levitan của khoa Thận Bệnh viện Việt Xô(3)* Centellạ astatica (rau má: là loại rau mọc hoang trên khắp nước tà. Nhân dân ta ở nhiều vùng biết được tác dụng của rau má qua kinh nghiệm chống đói (tệ nạn xã hội lưu hành dưới thời Pháp thuộc). Người ta nhận thấy nếu bị đói kéo dài, ăn rau má thì ít bị phù nề hơn. Trong các trường hợp viêm gan, xơ gan, uống nước rau má dài ngày thấy bệnh thuyên giảm. Trong cáo tài liệu về dược học Việt Nam, chưa thấy có tàỉ liệu nào nghiên cứu kỹ về cây này; tác dụng chữa bệnh của nó ít được nói đến. Theo tài liệu của Đỗ Tất Lọi 1 thì rau má đã được nhiều tác giả nghiên cứu, nhưng kết quả chưa thống nhất. Có tác giả tìm thấy trong rau má có một chất Alcaloit tên là Hydrocotylin, có công thức C^H^OgN chưa rõ tác dụng. Theo Bửu Hội thì trong rau má hái ở đảo Madagasca có chứa một chất gọi là Astalicoãl, có công thức C54H88023. Chất này, khi thuỷ phân, có thể cho những chất và những dẫn xuất có tác dụng điều trị được bệnh lao, Còn tác dụng của nó trong lão khoa thì chưa thấy ai nói đến. Hình như y học đã bỏ sót một cây thuôc quý có thể dùng trong lão hộc. Mãi đến gần đây, các tác gịả phương Tây nghiên cứu tác dụng của các cây cỏ nhiệt đới, mới phát hiện thấy trong cây Centella asiatica (tức cây rau má cua ta) có yếu tố chống xơ cứng. Nó có tác dụng làm cho các vết thương chóng lành, lại có khả năng diệt khuẩn và chống độc. Điều quan trọng là nó hạn chế được quá trình xơ hoá xảy ra ở các phủ tạng do viêm nhiêm gây nên mà lại không gây một tác hại gì đối với cơ thể. Đó là một tính chất vô cùng quý giá của rau má.

Người ta đã trồng nhiều rau má để chiết xuất lấy hoạt chất đóng viên dùng làm thuốc chống xơ gan và chữa các vết thương. Ghế phẩm của Pháp, từ cây rau má, có tên thuốc Madecassol dưới dạng ống tiêm, viên uống và thuốc mỡ bôi ngoài bán với giá rất đắt. Chúng tôi đã dùng rau má theo kinh nghiẹm dân gian để chữa những trường hợp xơ teo thận một bên và những trường viêm Thận-bể thận mạn tính, vối hy vọng hạn chế bớt quá trình xơ hoá diễn ra nhanh ở những bệnh nhân náy. Đối với người già, chúng tôi hy vọng nó sẽ đem lại lợi ích trong việc ức chế quá trình xơ hoá xảy ra trong tổ chức phủ tạng do tuổi tạc gây nên; vì hiện nay, ngoài chất lốt ra, chưa có một vị thuốc chống xơ nào thuận lợi và ít độc cho người già hơn là các chế phẩm từ rau má. Theo cụ lang Kiều: rau má là thực phẩm không hại, tính bình, không độc hại mà lại có tấc dụng giải độc, giúp gan ruột hoạt động được tốt, giúp thận bài tiết thuận lợi, làm cho người già thấy sảng khoái hơn. Theo kinh nghiệm trên 50 năm dủng các dược liệu nam y, cụ lang Kiều cho rau má là “đứng đầu các vị thuôc bổ”. Vì sao cụ lại dám quả quyết như thế? Ắt hẳn theo kinh nghiệm hành nghề lâu năm, có một điểu gì ờ rau má mà cụ chưa giải thích nổi, tạm gọi là “bổ” đã gây những ấn tượng mạnh mẽ đối với một cụ lang già, vừa là thầy thuốc vừa là một lão thành Cách Mạng đã ra tù vào tội nhiều năm. Phaỉ chăng đó chính là yếu tố chống xơ, đồng thời cũng là yếu tố có khả năng làm chậm quá trình lão hoá tổ chức?


Cụ lang Kiều đã ghi những kinh nghiệm về thu hái và bào chế rau má như sau: “ Lấy cả cây và củ về mùa rét thì chất lượng cao nhất, chữa bệnh tốt nhất. Trồng rau má cần bón phân tro, tưới nước cám. Khi rau má già, ta muốn dùng làm thức ăn thì đậy khuất ánh sáng mặt trơi 10 ngày, làm cho rau trở nên mềm, dễ ăn sống. Rau má khi hái về, thái nhỏ, phơi khô, tán bột. Pha 4% bột lưu huỳnh vào trộn đều, giữ kín, có thể để lâu không hỏng...Đầu xuân trồng rau má, cách 10 phân cấy một bụi, mỗi mét vuông 100 bụi. Mỗi mét vuông có thể thu được từ 0,5 đế lkg rau. Trồng nhiều có thể phơi khô tán bột để dành".

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/11/cong-thuc-levitan-cua-khoa-than-benh_13.html



Từ khóa tìm kiếm nhiềusong lau, uống nước đúng cách
Read more…

Các thuốc Lão khoa theo hướng "Bổ thận"

12:22 |
Từ năm 1976 đến năm 1995 nhóm nghiên cứu y học cổ truyền ứng dụng trong điều trị suy thận tuổi già đã liên tục áp dụng trên lâm sàng nhiều công thức thuốc kết quả một số dạng tổng hợp dưói đây thấy có khả năng cải thiện được sức khỏe cho người già.
Các thuốc Lão khoa theo hướng "Bổ thận"

13.1- Chữa xơ vữa động mạch tuổi giơ. Áp dụng cho những người tăng Cholesterol, tăng Triglicêrít trong máu.

* Chè Trường Xuân

-           Ngưu tất (Radix Achyranthes bidenlatae); 12g
-           Ngũ gia bì (Cortex Acanthopanax aculeatusseem): 10g
-           Hoa hoè (Flos. Sophorae japonicae>: 4g
-           Actisò (Cynara scolymus L,) (thân và lá khô): 8g
-           Gừng khô (Radix Rhizọma Zingiberis)          6g
-           Đậu đen (Vigna cylindrica Skeels) rang vàng: 8g

Uống thay nước cả ngày. Mỗi ngay một thang. Uổng liên tục nhiều ngay. Áp dụng cho 62 bệnh nhân từ 58 đến 74 tuổi, thấy kết quả như sau:

- Lượng nước tiểu bài tiết hàng ngày tăng từ 20 đến '50% só với đối chứng cùng chế độ ãn.

-           Sau 20 ngày uống thấy chỉ số cholesterol giảm 15 đến 20% và Triglyxerit giảm 15 đến 30% so với mức trước khi uống, ở 48 người; 14 người không có kết quả.
13.2- Chữa cao huyết áp cho người cao áp dụng loại “chè":

* Trường xuân (B):

-           Ngưu tất (Radix Achyranthes bidenlatae): 12g
-           Câu đằng (Rutacaae Ưncaria Rhynchophy Jack):10g
-           Lá hồng bì (Rutacaae Cỉausena Lansium (Lour) Skeels): lOg
-           Gừng khô (Radix Rhizoma Zingiberis) 6g
-           Đường quy (Radix Angelicae sinensis) 8g

Sắc Uống mỗi ngày một thang. Uống nhiều ngày, sau một tuần 75% số người cao HA ở giai đoạn II và III, mức HA giảm từ 10 đến 40 mmHg so với đối chứng, trong số đó có trên 20% người HA giai đoạn II trở về mức bình thường. 25% số bệnh nhân uống không kết qủa, nhưng đều thây lượng nước tiểu tăng và cảm giác chủ quan dễ chịu, đỡ nặng đầu. Ngoài ra chè này còn làm giảm Urê và Creatinin máu, xuống từ 15 đến 20% mức cũ ở những người suy thận độ I và độ H; giảm axit ưric máu ở những người tăng chất này trong máu xuống 15- 40% mức cũ.

Có thể áp dụng công thức hai loại chè trên cho những người bệnh nhân cao tuổi kèm các rối loạn chức năng cơ quan khác, bằng cách gia giảm như sau:

*          Ngừơị già xơ mạch hoặc cao HA cố kèm ăn uống chậm tiêu, chức năng tiêu hoá kém: Dùng chè loại A, gia thêm:

-           Nhân trần (Adenosma Capitatum Benth) lOg
-           Chi tử (Fructus-Gardenia Florida L.) 8g

*          Nếu kèm đau xương khớp, gia thêm:

-           ĐỖ trọng (Cortex. Eucommia Ưlmoides Olic)
- Đương quy (Radix Angeliecae sinensis) 8g

Các thuốc bổ thận, chống ỉởợ suy khác Áp dụng cho các trạng thái suy nhược tuổi già kèm đau đầu mỏi xương khớp.

Mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 5g luc đói.

* Cao Dơớng lão
Áp dụng cho các trường họp suy nhươc cơ thể, suy nhược thần kinh ở tuổi già, một mỏi, kém ăn, kém ngủ.
-           Cao dề toàn tính
-           Cao lỏng long nhãn (Arillus longanae)
(tỷ lệ 2: 1): tì 3%
-           Cao lỏng hạt sen (Liên nhục) (semen Nelumbinis) -(tỷlệ2:1)- 3%
-           Cáo lỏng Ba Kích (Radix Morindae Officinalis How.)(tỷ lệ 1: 1):        2%

-           Cao lỏng Đỗ trọng (Cortex Eucommiae ulmoides.)(tỷ lê 1:1):          2%
-           Démédrol 150mg/ lOOg hỗn hợp
-           Axit glutamic 3000mg/ lOOg hỗn hợp
-           Tá dược vừa đủ: 200 gr.

Mỗi ngày ăn từ 10-l5g chia làm 2 lần sáng sớm và buổi tối. Sau 2 tháng nhiều người già thấy đỡ mệt mỏi, giảm đàu xương khớp, sức khoe được cải thiện rõ rệt


Trên đây là những công thức thuốc đã được sử dụng gổm chà yếu là các dược liệu cổ truyển bán thực phẩm, có tác dụng tốt trên lâm sàng đối với sức khỏe người già sau 20 năm áp dụng tại bệnh viện "19-8". Thuốc lại không độc, không có tác dụng phụ, có lợỉ cho người già.

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/11/cong-thuc-levitan-cua-khoa-than-benh.html




Từ khóa tìm kiếm nhiều: sống lâu, uong nuoc dung cach
Read more…

Các loại Lương thực và Thực phẩm lợi cho Tuổi Già (Phần 1)

12:22 |
Qua nhiều năm thực hành tại bệnh viện, ẫp dụng cho nhiều người cao tuổi cho đến tận ngày nay, cũng như đã tham khảo tiếp thu nhiều thêm nhiều kinh nghiệm được phổ biến trên sách báo, chúng tôi nhận thây những loại saụ đây có thể làm nguồn dinh dưỡng |cho người già Chúng đều là những loại lương thực và thực phẩm thông thường, đâu đâu cũng dễ kiếm mà tạo hứa đã bán cho con người từ thời thái cổ đến nay. Chúng đều không mang dấu vết cửa độc tố, lại không bị giáng hóa thành những sần phẩm trung gian độc hại làm Ồ nhiễm nặng nội môi, gây quá tải cho chức năng của Thận.
Các loại Lương thực và Thực phẩm lợi cho Tuổi Già (Phần 1)

*I- Vổ lương thực: gạo không giã (còn nguyên lớp cám) hoặc giằ dối (giã không quá kỹ), vẫn còn lài môt ỉt lộp cám mỏng mang các Vitamin nhóm B và mỡ không bão hốa, để khi nấu cơm đỡ cứng. Nên mỗi tuần vài ba lần ăn xam với các chất bột khác như mỳ (bột mỳ, bánh mỳ...), ngô non luộc, kê, khoai...

2-         Đâu nành: giầu chất đạm thực vật, mỡ không bão hòa, ăn dưới hình thức đậu phụ, đậu kho với thịt nạc, lậu luộc chấm mắm v.v...

3-         Đâu đen: loại lương thực có tác dụng an thần, lại giầu chất đạm thực vật.., rất tốt cho tuổi già. Có thể nấu cơm đậu đen hay cơm nếp đậu đen, nấu cháo đậu đen + hạt sen.

4-         Ý dĩ: thường dùng làm dược liệu bổ Đông y, cân đối về đạm, bột và giầu chất vi lượng.

5-         Hoài Sơn: Cũng là loại dùng làm dược liệu Đông Y, tác dụng an thần và giầu chất vi lượng.

6-         Kê: Loại lương thực cân dối vê đạm, bột, mỡ không no và các chất vi lượng.

* II- Vế Thực phẩm. 1- Cá các loai (cả cá biển lẫn cá đồng): tuổi già nên ăn cá nhiều hơn thịt và- nên ăn các loại ít xương dăm (đề phòng hóc).

2-         Nấm ăn: nám rơm, nấm sò, nấm trứng.., giầu chất đạm dễ tiêu, các vi lượng rất tốt cho khẩu phần người già.

Vừng: thực phẩm không những là nguồn chất mỡ không bãọ hòa (nguồn Vitamin F) lại giầu cả chất đạm thực vật và nhiều hoạt chất sinh học thực vất quý.

 Rất tốt cho người già. Chế thành "muối vừng nhạt" ăn với cơm hoặc rang vàng cho thơm rồi nấu với cháo đậu hạy gạo, kê. .

4-         Sữa chua: rất tốt cho người già, vì không những là thực phẩm cố chất lượng dinh dưỡng caọ mà con có khả năng han chế quá trình lên men thối trong ruột, nhất là ruột giạ.


5-         Mât ong: ăn một lượng vừa phải hàng ngày (khỏang 30 đến 50 gam/ngày) kèm 1 lượng nhỏ "sữa ong chúa" rất tốt. Sẽ Ịà nguồn bổ sung các chất vi lượng và đường Giucôzà vào cơ thê..

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/11/cac-thuoc-lao-khoa-theo-huong-bo-than.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bí quyết sống lâu, uống nước đúng cách
Read more…

Các loại Lương thực và Thực phẩm lợi cho Tuổi Già (Phần 2)

12:21 |
*III:về rau quả
Các loại Lương thực và Thực phẩm lợi cho Tuổi Già (Phần 2)

1- Rau Tươi: Mỗi ngày người già nên ăn trúng binh 300-400 gam rau tươi trong hai bữa ăn chính, chế dưới dạng luộc, nấu canh hay xào ít dầu vói thịt hay cá. Nên thay đổi mỗi ngày từ ba đến nãm loại rau theo mùa, sau đây:    * Rau cải các loại; rau muống; rau dền; rau đay,rau mùng tơi, rau bầu, rau bí, rau khoai lang, cải bắp, xu hào, xúp lơ, củ cải v.v... Nên chú ý là chất xợ tuy không phải là loại bổ dưỡng nhưng rất cần có trong khẩu phẩn, nhất là đối với người già, vì nó giúp hạn chế quá ưình lên men thối, giúp nhu động ruột được tốt và việc bài tiết phân được dễ dàng.

Ăn sống chỉ nên dùng rau salát, rau diếp, các loại rau thơm (nhưng phải được rửa sạch và sát trùng cẩn thận) và hoa chuồi thái mỏng, củ đậu, giá đỗ (nên chần nước sôi cho bớt hăng)...

2-         Ngó sen: Là loại rau rất tốt cho tuổi già, có tác dụng an thần, tĩnh tâm nhuận tràng. C4 thể ăn sống hay xào, nấu với ít thịt.

3-         Dưa cải chua.Có thể ăn dưa chua hàng ngày, rất tốt, nhưng dưạ phải được muối vệ sinh. Trước khi muối phải rửa nhiều lần dưới vòi nước, bảo đảm không có dư lượng thuốc trừ sâu, không có trứng giun sán bám vào lá rau. Khi muối phải bảo đảm không bị lên men khú, ủng.

4-         Quả tươi sau bữa ăn: Nước ta là một nước thuộc vùng nhiệt đới, có rất nhiều hoa quả, hầu như quanh năm có quả tưoi. Vì vậy ăn hoa quả hàng ngày sau bữa ăn lúc tuổi già đối với nhiều người hiện nay không phải là điều quá khó khăn, tốn kém. Cần chú ý: * Người già lại đã béo, đái đường, cao huyết áp, xơ xữa động mạch, không ăn nhiều những loại quả nhiều chất bột hay quá ngọt như chuối, mít, na...

*          Nên ăn thêm cà chua (sống), quả dâu, bưởi, cam, quít, dưa, táo và quả nho đỏ.

IV:về các gia vị

1-         Dấm chua: ăn thêm dẫm chua vào hai bữa ăn có lợi cho tuổi già. Không những nó giúp cho tiêu hóa mà hình như còn hạn chế được quá trình lắng đọng chất mỡ trong thành mạch. Ăn dấm dưới dạng nước chấm pha dấm, canh chua v.v...


2-         Mẻ: Theo truyền thống dân gian dùng mẻ cũng có lợi cho sức khỏe nhất là đối với người già. Dùng trong nấu nướng thức ăn như nấu giả cầy, nấu dấm cá v.v...

Đọc thêm tại:

Read more…

Các loại Lương thực và Thực phẩm lợi cho Tuổi Già (Phần 3)

12:21 |
*V- Về Đồ uống.

Các loại Lương thực và Thực phẩm lợi cho Tuổi Già (Phần 3)
1- Nước đun sôi để muôi: Là đồ uống tốt nhất đối với người già. Mỗi ngày phải uống thêm từ 1,0 đến 1,5 lít, tuỳ theo bữa ăn đã ăn nhiều hay ít canh. Mùa nắng nóng có khi phải uống nhiều hơn. Tránh uống tập trung vào buổi tối để không đi đái đêm nhiều lần.

2-         Nước chè loãng+ sừng: Rất tốt đối với người già như đã nói ở mục trên. Cần chú ý ở đây là chè tươi (lá già) bán ở mọi chợ quê, khi đun sôi cho thêm vào một mẫu gừng bằng ngón chân cái đã giã nhỏ, hãm uống cả ngày.

3-         Nước vôi: Uống thay nước chè hàng ngày, là đồ uống dân gian đã hàng ngàn năm nay, cũng rất tốt, lợi cho tiêu hoá người già.

4-         Vans đỏ và Bia: Gần đây một số nhà lão khoa khi nghiên cứu về người già đã phát hiện ra rưđu vang đỏ có lợi cho tuổi già, nếu mỗi lần không nên quá 50 ml, cả ngày không nên quá lOOml.
Đối vói bia cũng thế, uống quá nhiều đều có hại, nhưng ngày 100 ml đến 150 ml lúc tuổi già cũng là chuyện bình thường.

5-         Nước hoa auả: Nước các loại hoa quả khác như cam, bưởi, dưa, táo., không pha đường hay nước chanh ít đường cũng có lợi nhiều cho sức khoẻ, giúp người già thích ứng tốt với sự biến thiên của khí hậu theo mùa, chống lại được các bệnh thời khí như cảm, cúm, ho gió, ho khan v.v...

6-         Các loai trà đăc. rươu manh: Người già không nên dùng hàng ngày. Riêng cà phê đã dùng quen cũng không nên dùng quá 2 chén mỗi ngày và không uống vào buổi tối.

* VI- Vế Dược liệu Đông Y: Nhiều dược liệu Đông Y truyền thống là những cây cỏ bán thực phẩm, đã được nhân dân sử dụng hàng ngàn năm nay, ta cần loại những thứ còn nghi ngờ, chỉ dùng những thứ biết rõ không có tác dụng phụ và có lợi cho tuổi già. Chế biến theo các món ăn dưới đây:

1- Cháo Ngũ Vi an thần:

*          Gạo không giã: 50 gam;
*          Đại Táo (táo đen đã đồ chín), bỏ hột: 7 quả;
*          Hoài Sơn: 30 gam;
*          Long nhãn (khô): 15 gam;
*          Nho khô: 15 gam.

Nấu thành cháo, ăn thay cơm vào trưa chiều. Có thể cho thêm một ít muối cho đậm. Mỗi tuần có thể thực hiện một lần.
2- Cháo ích trí trườns tho:

*          Gạo không giã (hoặc nếp cẩm): 50 gam;

*          Kê: 30 gam;

*          Hoàng Kỳ + ích trí nhân: môi thứ 15 gam, sắc lấy nước nấu cháo;

*          Câu kỷ tử: 20 gam.

ăn thay cơm vào chiều và tối. Pha thêm ít mật ong khi ăn. Mỗi tuần một lần.

3-         Cháo Bổ Thản Dưỡng Vinh :

*          Nhục Thung Dung + Câu kỷ tử: mỗi thứ 20g, Đương Quy:15gam. Ba thứ sắc bỏ bã, láy nước náu cháo;

*          Gạo + Kê: mỗi thứ 30 gam;
*          Ý dĩ: 25 gam;

*          Hạt sen: 20 gam

*          Đại táo (bỏ hột): 15 gam

Nấu cháo ăn thay cơm sáng và trưa. Mỗi tuần hoặc hai tuần một lần.

4-         Trà Minh muc- dưỡns tâm:

*          Sơn tra : 10 gam;
*          Cúc hoa: 5 gam;
*          Gừng tươi: 3-4 lát.

Hãm uống thay nước hàng ngày. Tác dụng làm tinh mắt, bổ tỳ vị, hạ huyết áp an thần. Muốn cho thơm, gia thêm vỏ quýt tươi hay Trần bì 5-7 gam. Có thể vắt chanh hay cho thêm mật ong hay đường để uống.

Bệnh viện 19-8 còn thường xuyên bào chế chè "TrườnsXuân" theo công thức:

*          Linh Chi rừng (thái mỏng): 5 gam;
*          Thảo quyết minh (rang vàng): 3 gam;
*          Nhân trần: 10 gam;
*          Đương Quy: 6 lát.

Uống thay nước cả ngày. Đã dùng rộng rãi trong nhiều năm nay, nhất là về mùa hè, rất tốt. Chè không những giúp tiêu hóa tốt mà hầu như giảm hẳn được tỷ lệ bị cảm cúm khi giao thời.

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/11/cac-loai-luong-thuc-va-thuc-pham-loi_13.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:  lão hóa, uống nước đúng cách
Read more…

Phòng nhiễm độc nội sinh hay Trạng thái Tự nhiễm độc

12:21 |
Phòng nhiễm độc nội sinh hay Trạng thái Tự nhiễm độcĐây là vấn đề chống táo bón và các quá trình lên men thối ữong ruột. Những quá trình này tạo ra các chất độc: Phênol, Indol, SH2, Indican, Amôniac... Các chất này rất độc đối với thận. Quá trình lên men thối càng mạnh thì những sản phẩm nối trên càng sẫn sinh ra nhiều. Một phần những sản phẩm này có thể khuếch tán qua thành hệ mao mạch ở ruột để vào máu và sẽ được thận đào thải ra. Khi thận suy thi chính những chất này cùng với các chất đạm cặn, đạm dư, Urê, Creatinin không được đào thải hết, ứ đọng lại trong máu và gây ra phức hợp các triệu chứng lâm sàng của hội chứng tăng Urê máu. Thực nghiêm trên súc vật đã cho thấy khi tiêm riêng chất Urê vào máu, làm cho nồng độ tăng cao đột ngột như trong suy thận, cũng không thể gây nên hội chứng lâm sàng của “Urê máu cao” thực thụ, nếu không có cả hệ thống các chất độc trên phối hợp tác động.Mtsnicốp cho rằng chính những chất độc do quá trình lên men thối ở ruột già đã là căn nguyên hàng đầu gây nên sự lão hoá bệnh lý. Chúng đầu độc cơ thể, đầu độc các phủ tạng, làm suy yếu mọi tế bào. Vì vậy, Métsnicốp khuyên nên hạn chế quá trình này trong ruột bằng cách dùng sữa chua thường xuyên để làm thay đổi môi trường của ruột già (môi trường kiềm); từ đó có thể hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây hại. Lý thuyết của Métsnicốp có lý lẽ và sức sống của nó. Sữa chua ngày nay đã trở thành phổ biến và có ưu điểm, do có tác động sinh học làm tăng chất lượng của sữa và đem đến kết quả hiển nhiên trong việc cải thiện hoạt động của ruột. Trong dân số các cụ già sống trên một thế kỉ,người ta cũng thấy hầu như các cụ không hề bị bệnh đường ruột nghiêm trọng trong cuộc đời.

Cha ông ta không dùng sữa chua nhưng đã biết dùng nhiều món ăn lên men chua, đặc biệt là dưa chua- món đầu vị có mặt hầu hết trong nhiều bữa cơm hàng ngày. “Dưa chua” và “nước dưa chua” nếu muối tốt, hợp vệ sinh, thì không những ăn ngon mà tác dụng sát trùng đường ruột, ức chế những nhóm vi khuẩn lên men thối trong ruột già cũng chẳng kém gì sữa chua.


Khảo sát các cụ già trên 70 tuổi ở nông thôn vùng tỉnh v.p thấy 100% các cụ có dùng dưa chua làm món ăn thường xuyên và hầu như suốt đời. Các cụ ăn dưa chua hàng ngày với số lượng 100-200g, kèm cả nước dưa chua, với cá đồng hay mắm cá, mắm tép. Đó là chưa kể món dưa chua nấu canh hay món cá nấu “mẻ”- một thứ gia vị tự chế- cũng dựa trên nguyên lý lên men chua của vi sinh vật. Trong các món ăn này,chẳng những có nhiều Axit Lactic mà còn có các Vitamin, các chất đạm cần thiết do chính vi khuẩn tạo ra, bổ sung vào bữa ăn đạm bạc của các cụ. Phải chăng đây là yếu tố làm cho tỷ lệ các bệnh đường ruột ở mức thấp trong các cụ sống lâu?

Đọc thêm tại: 
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/11/cac-loai-luong-thuc-va-thuc-pham-loi.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: bí quyết sống lâu, lão hóa, lao hoa, uong nuoc dung cach
Read more…

Chống sự nhiễm bẩn nội môi (Phần 4)

00:01 |
3-         Các thuốc công phủ Thận Tránh dùng thuốc khi không cần thiết
Chống sự nhiễm bẩn nội môi (Phần 4)

Mồt nguồn gây nhiễm độc đối vói thận đáng kể của xã hội ngày nay là các chất hoa dược, thông qua việc sử dụng thuốc men không đúng hoặc cọ thói quen sính dùng thuốc gây nên. Chung công phá thận, làm suy yếu hoạt động của thận mà nhiều khi không biết. Đó cũng là một cái giá phải trả đối với những người chỉ muốn mưu cầu sự khoẻ mạnh sống lâu bằng thuốc thang. Có loại thuốc mà con người đã từng dùng từ non một thê hệ kỷ và được coi như ít gây hại nhất, nhưng đến khi lạm dụng nó thì sau mới phát hiện rạ là chính nó đã gây nên trạng thái xơ thận không hồi phục; đó là chất phênaxêtin, vị thuốc giảm đạu, chống cảm cổ điển, ở châu Âu, nhiều nước dùng phổ biến chất phênaxêtin. Các biệt dược có phênaxêtin hầu như có mặt trong mọi tủ thuốc gia đình. Ngừòi ta dùng nó để chữa cảm cúm, chữa nhức đầu và đau xương, đau khớp. Mãi đến năm 1953 và sau đó năm1959, hai tac giả Đức là Zọllinger và Spuler mới phát hiện thấy trạng thái viêm thận kẽ tiến triển đến suy thận hoàn toàn không hồi phục ở những người có thói quen dùng nhiều và kéo dài chất phênaxêtin để chữa bệnh. Những công trình thực nghiệm tiếp theo trên súc vật cụng đã xác minh nhận xét đó.

Ngày nay ai cũng đã biết có nhiều loại thuốc rắt độc đối với thận, người khoẻ dùng đã phải hết sức cẩn thận, người yếu càng phải cẩn thận hơn. Có nhiều loại thuốc mà nếu thận yếu thì không thể dùng đựơc.

* Đứng đầu các loại kháng sinh gây hại cho thận là Streptomyxin, nhất là đối vói thận ngưòi già. Chúng tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp ở các bệnh nhân 70 tuổi trở lên, chỉ sau khi tiêm 4-5 gam Streptomyxin để điều tri bênh viêm phế quản, đã làm cho urê máu từ mức bình thường tăng vọt lên 0,6- 0,7g đến lg/lít và, sau đó phải vất vả lắm mối điều trị hạ được mức urê máu trở lại bình thường. Tuy nhiên, điều đó không phải lúc nào cũng phát hiộn ra. Nhiều trường hợp tưởng mức urê lên ở người già như thế là do bệnh thận cũ hoạc do biến chứng thận cùa bệnh viêm phổi, khiến rất dễ quên không nghĩ đến loại thuốc đã dùng. Đó là chua nói đến những người do thiếu kinh nghiệm, chưa hiểu rõ hay chưa thông, nên không phát hiện ra. Sau đó là các loại thuốc Nêomyxin, Colimyxin, Colixin, Baxitraxin; các thuốc chống lao Etambuton, Rifamyxin; các thuốc chống nấm như Mycoxtatin, Glyxeroíulvin, đều gây tác hại mạnh đến thận. Chỉ dùng đến chúng khi thật cần thiết, dựa trên nguyên tắc “ lợi ít hại nhiều” thì không nên dùng. Vì vậy khi sử dụng những loại thuốc này đều phải do thầy thuốc có kinh nghiệm và hiểu biết thấu đáo thì mói có hiệu quả cạo và hạn chế bớt tác hại. Đối với những người đã cao tuổi mà thận lại yếu thì nhũng thuốc trên có thể gây nên suy thận không phục hồi.

*          Sulfamit cũng là loại thuốc có ảnh hưởng không tốt đến thận, nếu đùng không đúng. Liểụ cao phải thận trọng, và phải uống nhiều nước để thuốc bài tiết ra được dễ dàng, nếu không, chúng có thể kết tinh trong ống thận vù gâỵ tắc nghẽn ống thận, dẫn đến trạng thái vô hiệu.

*          Thuốc lợi tiểu có thuỷ ngân đã thịnh hành một thời, ngày nay ai cũng biết những tác hại đến thận của nó. Xu hướng hiện đại lại Tà dùng thay thế bằng các thuốc lơi tiêu/loại Sulfamit hoặc loại ức chế hoạt động của các men hay nội tố trong quá trình tái hấp thu nước ống thận. Các loại thuốc này ít độc hơn loại thuốc có thủy ngân nhưng dùng không đúng cũng rất dễ gây nên suy thận chức năng do hạ thấp thể tích lưu thông vt mất nước quă nhanh. Chúng còn có thể gây nên tình trạng mất Kali máu, dẫn đến những rối loạn nặng trong hoạt dộng của thận và cơ tim.

*          Ngưòi đau dạ dày mà dùng thuốc Bitmút nitrat kéo dài thì cũng có thể bị suy thận do tổn thương cáu thận. Dùng bột cam thảo dài ngày để chữa cơn đau loét hoặc dùng cam thảo làm nước giải khát kéo dài có thổ gây nên bệnh cao huyết áp, do tác động của chất Glyxyrizin trong cam thảo. Bệnh rất dễ nhầm với cao huyết áp do u tuyến thượng thận.

*          Các muối kim loại nặng như vàng, chì, thuỷ ngân, thạch tín, đồng v.v... hay có mặt trong các đơn thuốc chữa hen cổ truyền (cũng có khi có trong đơn chữa sốt kinh giật, đau khớp v.v...) dùng không thận trọng có thể gây nên viêm ống thận cấp, gây đái ra Albumin hay vô hiệu.

*          Một liều thuốc Phênylbutazôn chữa khớp, nếu không chú ý đến tình trạng gan, thận của bệnh nhân, có thể dẫn đến suy thận nặng. Liều lượng thuốc khi dùng cũng phải cân nhắc, nhất là khi tuổi đã cao, vì hai quả thận không còn được khoẻ mạnh như tuổi thanh xuân. Nói chung, liều vừa phải mà còn tác dụng thì không nên dùng liều cạo.

Trên đây là chưa kể đến nhiều loại thuốc khác gây độc cho gan, tim, máu là chủ yếu và cho thận là thứ yếu. Cần phải đặc biệt nhấn mạnh vấn đề nhiễm độc thuốc do tệ nạn “lang vườn” gây nên. Hàng năm, các bệnh viện gặp không ít tình trạng nhiễm độc cấp tính và mạn tính do tai nạn này: suy thận tử vong do mật cá trắm, do dùng các bài thuốc gọi là “gia truyền” cổ kim loại nặng; viêm ống thận cấp do mủ cóc, viêm tắc động mạch do dùng các loại rễ cây có chất độc gây nên v.v... Gòn biết bao trạng thái nhiễm độc mạn tính mà bệnh nhân không biết: vì đã quá tin ông lang này, bà lang nọ (những ông lang khồng được phép Nhà nước), mà mang một bệnh xơ gan, một chứng hạ bạch cầu, rối loạn huyết học, viêm thận tiềm tàng, suy tuỷ.. .

Đọc thêm tại:
http://dauhieulaohoa.blogspot.com/2014/11/phong-nhiem-oc-noi-sinh-hay-trang-thai.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: song lau, uống nước đúng cách


Read more…