Tuổi thọ trung bình
Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014
Nhiều ngừơi vẫn tin tưởng
một cách mơ hồ rằng: Ông cha ta sống trong các xã hội nông nghiệp cổ đại, có lẽ
sống lâu hơn chúng ta ở xã hội hiện nay. Những dẫn liệu khoa học ngày nay đã
cho phép ta kết luận một cách chắc chắn là nhận xét trên không đúng. Con người
thời cổ không sống lâu bằng người thời nay. Muốn tấn cổng đánh ỉùi được bệnh tật
và cái chết đến sớm để nâng cao tuổi thọ con người phải được trang bị bầng trí
tụẽ, bằng sự hiểu biết ngày một cao đến một mức nhất định mới có thể thành công
được. Điều đó chưa thể cồ trong thời đại cổ sơ. Nhà nhân chủng học người Pháp
là H.v Valois, cựu giám đốc viện bảo tàng về người, đã nghiên cứu tuổi tác khi
chết của 187 người hoá thạch đào được, cho biết: 1/3 chết trước tuổi 20, gần
2/3 chết vào khoảng 30-49 tuổi, từ 41-50 chỉ có 16 ngưòi, sau 50 tuổi chỉ cổ 3
người.Như thế là rõ ràng là đòi sống cùa những người “hoá thạch’* cổ sơ quá ngắn
ngủi. Tài liệu về tuổi thọ của những người đào được ở các ngôi mộ cổ gần đây ở nước
ta (cách đây 5-7 trăm năm) cõng cho thấy là hầu. hết đều chết từ tuổi 50 trở xuống.
Khảo sát về tuổi thọ trung bình qua các thời đại cũ, nhà lão khoa Đức Brũschke
cho các số liệu như sau:
* Thời đại đồ sắt (ồ Hy Lạp): 18 tuổi
* Thời đạì đồ đồng; 20 tuổi
* 2000 năm trước Công nguyên (ỏ La Mã):
22 tuổi
* Thế kỷ thứ 18 (năm 1789 ở Hà Lan):
35.5 tuổi
* Thế kỷ thứ 19 (năm 1838 ở Anh): 40 tuổi
* Thế kỷ thứ 20:
- (năm 1900 ở Mỹ); 49 tuổi
- (năm 1947, ở Mỹ): 66 tuổi
- 1958, ở CHDC Đức cũ): 70,6 tuổi
Như vậy là trong khoảng
thòi gian chừng 100 năm nay tuổi thọ trung bình của con người đã được tăng lên
nhanh chóng so với nhiều thế kỷ trước đây.
Nguyên nhân dẫn đến
tình trạng tuổi thọ trung bình quá thấp ở các xã hội thuộc nhiều thế kỷ trước là
do:
1. Trẻ sơ sinh và nhi dồng chết quá nhiều,
phổ biến ở mọi nước.
2. Bệnh nhiễm tròng và dịch tẻ làm chết nhỉểu
người ở tuổi trưởng thành và tuổi thanh niên.
3. Nạn từ vong ở phụ nữ dạng tuổi sinh đẻ
cũng khá cao do biến chứng khi chửa đe chưa có biện pháp cứu chùa.
Những hậu quả trên đều
do trình độ vệ sinh xã hội còn thấp, kinh tế chưa phát triển, sự hiểu biết về
nguyên nhân sinh bệnh còn kém, nền y dược cổ chủ yếu dựa vào những phương pháp
thô sơ và các được liệu từ lá cây, rễ cây, sử dụng các loại thuốc nguyên liệu
ban đầu do kinh nghiệm mà dòng.
Số liệu trên cho thấy
tuổi thọ trung bình của con người thuộc các xã hội từ những thời kỳ lịch sử đã
qua không thế nào so sánh được với tuổi thọ ngày nay.thời xưa, thỉnh thoảng cố
những cụ già sổng lâu mơ ứơc, thì đó cũng là những tnừờng hợp cá biệt ra hiếm hữu.
Thực ra tuổi thọ trung hình cùa con nguôi cổng chi mới tăng nhanh từ những năm
giữa thế kỹ này có thể nói là từ sau cuộc đại chiến thế giới lần tới đến nay.
Khoảng thời gian này là thời gian khoa học kĩ thuật cố những tiến bộ nhảy vọt, là
kỹ nguyên cùa kháng sính và những phát minh lớn vể sinh học. Ngay ố một nứoc tư
bản ỉâu đời như nước Pháp, khi nghiên cún vể thống kê tuổi thọ trung bình của
dân thành Pari, nẳm 1900, cũng mới chỉ thấy đên 40 tuổi. Nữa thế kỷ sau, năm j
950, nghĩa ỉà sau thế giới đại chiến thú hai, đi tăng lén 57 tuổi (thêm 17 năm
sòng XlO). Nãm 1972 (tức là 22 nám sau năm 1950), nước Pháp đã là một trong số
ít nước có tuổi thọ trung bình cao (71 tuổi), và có đô lão hoá dân số lớn vào bậc
nhất châu Âu. với í 8,1 % các cụ già từ 60 tuổi trở lên .
Ở nước ta, các số liệu
cũ đều thiếu sót. Theo tài ỉìệa cỏa bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (năm 1960) cho biết
thi dưới thời thuộc Pháp (trước năm 1945), tuổi thọ trang binh của nhân dân ta
chỉ có 29 tuổi, tức ỉà ngang với tuổi thọ thời trung cổ của nhiều nước. Điều
này hoàn toàn dễ hiểu khi ta khảo sát đến nạn trẻ sơ sinh bị chá, các bệnh dịch,
cũng như nạn đói kém xảy ra kinh niên ồ nước ta dưới thời phong kiến suy tàn
nhà Nguyễn và thời thuộc Pháp. Tài liệu của BS Thạch cho biết thẽm: Sau cuộc
chiến tranh chống Pháp (năm 1946- 54), mặc dầu nhân dân ta đã thoát khỏi ách thổng
trị của thực dân Pháp, kinh tế còn bị kiệt quệ, nhưng chỉ với sự tuyên truyền mạnh
mẽ đi kèm việc tổ chức rộng khắp công tác vệ sinh xã hội, tuổi thọ trung bình cửa
nhân dân ta sau hai nâm cũng đã tâng ĩền 36 tuổi. Sáu năm sau cuộc kháng chiến
chống Pháp chấm dứt, cuộc điều tra dân số lần thứ nhất (vào tháng 3 năm 1960)
tiến hành vào lúc miền Bắc đâ căn bản xoá bỏ chế độ bóc lột phong kiến, đã cho
thấy tuổi thọ trung bình cùa nhân dân ta tăng nhanh lên 48 tuổi. Số lượng các cụ
già từ 100 tuổi trở lên (cho mỗi triệu dân) có tới trên 60 người. Đố là một chỉ
số cao so với nhiều nước trên thế giới. 14 năm sau, cuộc điều tra dân số lần thứ
hai (vào tháng 4 năm 1974) cho biết: Dân số nước ta đã tăng thêm 7 triệu 87 vạn
người (49.4%)Riêng các dân tộc miền núi tăng thêm tới 70.3%. Tuổi thọ trung
bình của nhân dân ta cũng lên đên 60 tuổi. Việc tăng tuổi thọ trung bình của
nhân dân là thành quả to lớn của sự nghiộp nâng cao mức sống toàn dân, nâng cao
mức giác ngộ về vộ sinh phòng bệnh, về tổ chức y tế xã hội và bảo vệ bà mẹ - trẻ
em của Đảng và Nhà nước. Đó là thành qủa của những công tác chống các bệnh dịch
như tả, lỵ, thương hàn,
Xem thêm tại:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét