Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 2)
Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014
Nếu
lượng nước trong dịch nội môi giảm, thận phải điều chỉnh tăng cường quá trình
tái hấp thụ nước ở ống thận, làm cho lượng nước tiểu giảm đi. Cơ chế điều chỉnh
nước và muối thường đị đôi vái nhau. Nếu cơ chế đó bị tổn thương do những quá
trình bệnh lý ở thận thì có thể gây nên sự ứ đọng nước và muối ở kẽ gian bào biểu
hiện ra ngoài bằng triệu chứng phủ nề thường gặp.
Lượng
nước trao đổi hàng ngày rất cần thiết để thực hiện quá trình thay cũ đổi mới của
cơ thể. Muốn giữ vững sức khoẻ lâu dài, hàng ngày cơ thể con người phải được tiếp
tế đủ lượng nước cần thiết. Thói quen uông quá ít nước, cũng như thói quen uông
quá nhiều nước một lúc là những tập tính không hợp vệ sinh và không lợi cho việc
bảo vệ sức khoẻ.
Trong
24 giờ, :ở nhiệt độ ngoại cảnh trụng bình 25tìc, một người lớn tuổi làm lao động
thể lực nhẹ (nội trợ), lượng nước thải ra bình thường như sau:
-
Thải qua nước tiểu 1500ml
-
Theo mồ hôi bốc hơi qua da 450ml
-
Theo hơi thở qua phổi 550ml
-
Theo phân 150ml
Tổng
số 2650ml
Lượng
nước ấy phải được bù vào qua khẩu phần hàng ngày, phân bố bình thường như sau:
-
Nước uống vào 1300ml
-
Nước qua thức ăn 1300ml
-
Nước tạo thành do quá trình Ôxy hoá các chất ttong cơ thể 350ml
Tổng
cộng 2650ml
Người
ta gọi đó là sự cân bằng trong trao đổi nước hang ngày của cơ thể. Đó là một
nhiệm vụ vô cùng quân trọng để duy trì cuộc sống bình thường. Điều chỉnh sự cân
bằng nước là nhiệm vụ của một trung khu thần kinh thực vật nằm ở vùng dưới đồi
(hypothalamus) của nẵo trung gian. Trung khu này hoạt động dưới sự chi phối của
một nội tiết tố của thuỳ sau tuyến yền, gọi là (hocmon chống lại bài niệu” kí
hiệu bằng ADH. Kích thích trung khu này trên súc vật thí nghiệm, lập tức làm
cho lượng nước tiểu tăng lên và sẽ tạo ra loại nước tiểu loãng có tỷ trọng thấp,
do lượng nước thải ra quá nhiều mà các chất hoà tan ít. Đó cũng là cơ chế của bệnh
“đái tháo nhạt” thường gặp ở một số bệnh nhân. Những người này luôn luôn có cảm
giác khát, phải uống nước luôn và lượng nước tiểu hàng ngày có thể từ lên 5 đến
10 lít hay hơn nữa. Hocmon ADH ức chế kích thích đó, nó tác động ỉên tính thẩm
thấu của các tế bào thận ở đoạn “ống lươn xa” và đoạn “ống chung” làm i tăng
quă trình tái hấp thu lại nước và làm giảm nhanh chóng lượng nước tiểu thải ra.
Trên người, chỉ cần tiêm tĩnh mạch một liều rất nhỏ là 2.10‘9 gam ADH (tức là
0,000.000.002 gam) đã thấy lượng nước tiểu giảm rõ rệt. ở người bình thường lượng
nước cần thiết được uống vào thông qua cảm giác khát. Trung khu cảm giác khát
cũng ở vùng dưới đồi (hypothalamus) cạnh trung khu bài niệu. Nó hoạt động do sự
nhạy cảm của các tế bào vùng đó đối vói sự thay đổi áp lực thẩm thấu của dịch
gian bào cũng như của áp lực máu.
Khi
áp lực thẩm thấu dich gian bào hoặc trong máu tăng, tức la có sự tăng nồng đọ
muối, trung tâm ấy tạo ra cảm giác khát va hạn chế tiết nước bọt (gây ra khô miệng)
làm cho ta, muốn uống nứơc.
Thí
nghiệm kích thích trung tâm này bằng điện, trên súc vật sẽ gây cho con vật khát
nước và uống nước không biết chan, uống cho đến khi chết nếu kích thích ấy vẫn
còn. Dùng một kim nhỏ để đưa một dung dịch nước muối ưu trương vào qua trung
tâm này cũng gây nên cảm giác khát. Trên thực tế, nếu ta tiêm nước muối ưu
trương vào qua trung tâm này cũng gây nên cảm giác khát, trong khi đó nếu tiêm
nước muối đẳng trương (dù với khối lượng nhiều) thì cũng không gây cảm giác
khát. Duy trì sự thăng bằng nước, thông qua khả năng thải nước ra khỏi cơ thể
nhanh chóng, khi cho một lượng nước thừa vào đột ngột, là một khâu hoạt động chức
năng quan trọng của thận.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét