Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 4)
Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014
2-các chất điện giải trong nội môi
Các
chất điện giải dịch nội môi gồm các ion dương như Natri, Kali, Magie, Canxi..,
gọi là các Cation; và các ion âm như Clo, Bicatbonat, Phốtphát, Sun phát, cac
Protein và các ion hữu cơ khác, gọi là Anion. Các ion dương bao giờ cũng cân bằng
với ion âm. về phương diện điện hoá học, cầc chất trong dịch nội môi là trung
hoà.
Chất
điện giải mang điện tích dương quan trọng nhất trong dịch nội môi là Na+; còn
chất điện giải mang điện tích ẩm quan trọng nhất là C1Bicacbonat và các
Protein. Nồng độ các chất điện giải trong máu và trong dịch gian bào như sau:
(tính ra mili đương lượng hay “milli-équỉvalerit”, kí hiệu là mEq/ trong 1
lít).
Trong
thực tế, nồng độ các chất điện giải không phải là một con số cố định như trong
bảng thống kê trên. Nó có phạm vi thay đổi cho phép, gọi là độ “giao dộng sinh
lý”. Ví dụ: nồng độ Na+ thay đổi từ 138 đến 146 mEq/1, Bicacbonat từ 24 đến 28
mEq/l huyết tương. Các chất khác cũng cố độ dao động như trên.
Giữa
dịch gian
bào và huyết tương cách nhau bằng lớp tế bào mỏng của thành mao mạch.
Thành mao mạch đóng vai trò một màng siêu lọc và dịch gian bào là kết quả của
tác dụng siêu lộc đổ: các thành phần điện giải thì gần giống như trong huyết
tương, chi vắng mặt các phần tử hữu hình của máu(hồng cầu, bạch cầu, tiểu cẩu)
và không để lọt các protein có phần tử lượng lớn quá. Điều chỉnh và giữ vững nồng
độ các chất trên với một hằng số thích hợp, luôn luôn ổn định là nhiệm vụ của
thận. Thực ra, ở đây chỉ kể đến một số chất điện giải chính có tác dụng đến áp
lực thẩm thấu của thành mạch.
Còn
hàng chục chất khác cũng có mặt trong máu và trong dịch gian bào với một lượng
rất nhỏ gọi là các chất vi lượng, rât cần cho sự tồn tại của cơ thể, nồng độ
cũng phải được giữ thăng bằng. Ta hãy lấy ví dụ như một số chất:
Chất
lốt: chỉ cần mỗi ngày 1/10 mg, nhưng thiếu nó thì tuyến Giáp sẽ không có nguyên
liệu cấu tạo nên hocmôn và sẽ phát sinh bệnh bướu cổ; thường hay thấy ở đồng
bào miền thượng du, xa biển là nơi có bầu không khí bị thiếu nguyên tô' lốt.
Để
đề phong bệnh do thiếu lốt sinh ra, người ta phải nghĩ đến cách cho một lượng
rihỏ lốt vào muối ăn hàng ngày để cung cấp cho đồng bào miền núi.
Các
chất Điên giải dương;
Các
chất điện giải Trong máu Trong gian bào
Na+ 142
mEq/1 141mEq/l
K* 4
-—... 4
—...
Ca+ 5
4,5
Mg+ 3
2,5 -----
Tổng
cộng các cation 154 152 ——
Các
chất điện giải Trong máu Trong gian bào
CT 103
mEq/1 114mEq/I
Htxv 27 30
P04-- 2 2
so;- 1 1
Axit
hữu cơ' 5 5
Protêin 16 0
Tổng
cộng các anion 154 152
Chất
Sắt: cần cho sự tạo ra huyết cầu tố, cho sự hình thành các men hô hấp. Các chất
đồm, kẽm, manean.côban, silic...hết thảy đều chỉ cần vói lượng rất nhỏ. Tăng nồng
độ của chúng trong máu sẽ dẫn đến sự rối loạn ở nhiều hệ men sinh học cần thiết
cho sự sống, nhưng thiếu nó cũng sẽ dẫn đến những biến loạn trong hệ thống
"men" chuyển hóa trung gian.
Hai
quả thận được ví như một kẻ “cầm cân nẩy mực”, có trách nhiệm đào thải bớt qua
nước tiểu, khi khẩu phần ăn vào quá nhiều thành phân các chất đó, hoặc hấp thụ
lại để tránh sự lãng phí khi khẩu phần ăn thiếu hụt những chất ấy. Cơ chế điều
chỉnh các chất điện giải cùa thận có hên quan đến các hocmon vỏ thượng thận, gọi
là hocmon chuyển hoá các chất khoáng hay là chất Andosteroỉ. Chất này tác động
vào quá trình vận chuyển lon Natri một cách tích cực của tế bào ống thận ở khu
vực "ống lượn gần". Ở những con vật bị cắt tuyến thượng thận, người
ta thấy lượng Natri hấp thụ giảm hẳn ở đoạn này,so với những con vật làm chứng.
Trong khi đó thi chất Kali được giữ lại quá mức. Na+ bị thải nhiều sẽ kéo theo
cr theo, đổng thời kéo theo nước gây nên tình trạng mất nước ngoài tế bào. Ở những
người bị thiểu năng tuyến thượng thận cũng thấy có hiện tượng mất NaCl và tàng
tỷ lệ Kali trong máu. Nếu ta tiêm một liều Andosterol tương úng, quá trình tái
hấp thụ Natri sẽ lập tức được hồi phuc và sự cân bằng các lon cần thiết này lại
trở về trạng thấi sinh lý bình thường.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét