Phải chống sự lão hóa tế bào
Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014
Đây
là một vấn đề còn được ít người khảo sát đến mặc dầu vấn đề nội môi thì người
ta đã biết từ trên một thế kỉ nay, do nhà bác học Pháp Claude Bemard phát hiện.
Mọi tế bào trong cơ thể con người đều sống và hoạt động được một cách hài hoà,
trật tự là nhờ chúng cùng ở trong một không gian thống nhất: đó là dung dịch nội
môi. Có hàng ngàn yếu tố cấu tạo nên không gian đó mà ngày nay thật ra người ta
cũng chưa biết hết.
Khoa
học về con người càng phát triển thì mỗi ngày người ta lại tìm thêm ra những chất
mới. Khi khoa sinh hoá biết được các chất axit amin, glucoza, axit béo là những
nguyên liệu cần thiết cho sự sống của cơ thể, thì người ta thây chúng không phải
chỉ có mặt trong dòng máu mà còn có măt trong dich nôi môi. Khi các vitamin được
khám phá thì vitamin cũng có măt trong dung dich nội môi. Khoa học phát hiện ra
các men chuyển hoá trung gian, lập tức trong dịch nội môi cũng thấy dấu vết
chúng. Rồi đến các muối khoáng, các chất vi lượn.., những gì cần thiết cho sự sống,
người ta đều tìm thấy chúng trong dịch nội môi. Ngay cả những chất độc, sản phẩm
cùa quá trình lên men thối trong ruột như các chất Phenol, Indol, SH2., mặc dầu
chúng tồn tại trong cơ thể với một lượng vô cùng nhỏ, nhưng khi khoa học tìm ra
được phương pháp phát hiện chúng thì đều thấy chúng có mặt trong dịch nội môi.
Mọi tế bào đều tìm thấy chất cần thiết cho sự sinh trưởng và hoạt động của mình
trong đó. Tế bào máu tìm thấy chất sắt để tạo ra huyết cầu tố; tế bào xương tìm
thấy chất photpho, canxi, magiê để phát triển; tế bào tuyến Tụy tìm thấy yếu tố
Kẽm để tạo ra Insulin; tế bào tuyến Giáp tìm thấy lốt để chế ra Thyroxin; tế
bào tuyến dạ dày tìm thấy chất Clo để sản sinh ra axit dịch vị (ạxit Clohydric)
v.v... Chúng lại cũng thải ra trong dịch nôi mội những chất cặn bã do chính
chúng tạo ra: cơ2, NH2, Urê, Creatinin... Ngoài ra, mọi yếu tố của môi trường
bên ngoài đều có thể xâm nhập vào môi trường bên trong qua ăn uống, qua hô hấp
v.v.., làm tăng tốc độ ô nhiễm nội môi. Ví dụ: S02, co, 1 C02, hơi chì từ các đông cơ xe hơi, xe máy, từ
các ống khói nhà maý xả vào không khí; con người hít phải, các hơi đó qua phổi
sẽ khuếch tán vào máu rồi vàò nội môi.
Các
sản phẩm của quá trình lên men thối ở ruột già khuếch tán qua thành ruột, theo
máu đột nhập vào dịch nội môi. Các chất độc do thực phẩm đưa vào qua đường ăn uống:
đồ ăn để ôi thiu, lên men, lên mốc tiết ra độc tố; các chất độc của mầm khoai
tây, của vỏ sắn tươi, của mắt dứa v.v... cho đến các thuốc men, hoá chất uống
vào, hết thảy đều xâm nhập vào dịch nội môi, làm ô nhiễm thêm môi trường sông của
quần thể tế bào cơ thể.
Thử
hỏi, cái gì sẽ xảy đến cho con người nếu buồng gan và hai quả thận không liên tục
làm việc suốt 24 giờ/ngày để lọc chúng ra khỏi cơ thể? Phải chăng chính sự tích
lũy âm thầm các chất độc phức tạp trải qua cả thời gian dài của đời người,
trong đó có nhiều chất mà ngày nay chúng ta cũng chưa biết hết và nhiều chất dù
đã biết cũng chưa có phương pháp đo lường chính xác, đã là nguyên nhân gây nên
những quá trình thoái hoá tế bào trong cơ thể ? Chính chúng cũng là căn nguyên
gây nên sự lão hoá thực thụ của con người và sinh vật?
Hai
quả thận có nhiệm vụ phải làm thanh khiết môi trường bên trong cơ thể, giữ vững
hàng ngàn hàng vạn yếu tố của cuộc sống mà mọi tế bào đã chấp nhận, luôn luôn ở mức không đổi. Tạo hoá đã phú cho
nó một kiến trúc tinh vi và hợp lý để đáp ứng cho được nhiệm vụ. Kiến trúc đó
cũng đã phải trải qua hàng triệu năm tiến hoá (từ những sinh vật hạ đẳng đến
con người) mới có được sự hoàn chỉnh như ngày nay. Chẳng những đối với các chất
độc, mà ngay cả đối với các chất bổ cần thiết cho cơ thể, dù quý đến mấy nhưng
nếu nồng độ chúng quá cao cũng đều bị thận tống ra ngoài nhanh chóng để giữ vững
sự ổn định của mọi hằng số nội môi. Tuy nhiên, đáng tiếc là mặc dầu tạo hoá đã
cho ta tới hai quả thận để dự trữ cho nhiệm vụ nặng nề như trên, nhưng nhiều
khi hình như chúng vẫn chưa đủ độ bền để chịu đựng các yếu tô' công kích. Nhiều
quá trình bệnh lỷ lan tràn hay từng ổ, dề dàng đánh vàó cả hai thận, làm suy yếu
chúng, gây ra những vùng xơ hoá tiến triển âm thầm hàng chục năm để tiến đến
“đánh gục” hẳn hai thận. Khi phát hiộn ra những triệu chứng ban đầu tương đối
đã rõ ràng để làm vùă lòng những thầy thuốc khó tính, thì lúc ấy đã quá muộn để
cứu vãn nó, mặc dầu với cả những biện pháp hiện đại ngày nay. Người ta đã biết
rằng một người bị các quá trình viêm thận mạn tính âm thầm, khi cả hai thận đều
bị hư hoại thì các dấu hiệu suy thận mới xuất hiện trên xét nghiệm sinh hoá,
ure và creatinin mới tăng lên trong máu. Hàng ngày, hai thận thương bị hàng
trăm yếu tố công kích, do sự tăng giảm các chất liệu của nội môi. Ngoài ra còn
có những chất độc do biết bao thói hư tật xấu tròng sình hoạt con người đưa vào
môi trường cơ thể bắt thận phải loại ra: chất nicotin củá thuốc lá, thuốc lào;
tạp chất của rượu, chất kích thích của cà phê; chất độc của thuốc ngủ, chất
chuyển hoá củạ các thức ần dư thừa... Mặt khác, cậc tác nhân gay bênh (vi sinh
vật, hoá chất, kháng nguyên v.v. . .) khi đột nhập vào cơ thể, đều đi qua thận
để tống ra ngoài. Vì chúng cũng là những sinh vật (hoặc các chất có tác động
sinh vật) nên chúng không dễ dàng để cho thận [ọc ra, chúng công phá thận. Khi
con người đã quá tuổi 40, ai có thể bảo đảm được rằng hai quả thận (một “cửa ải”
cho biết bao yếu tố công kích đi qua, ngấm vào huỷ hoại liên tục, lại vẫn còn
hoạt động được nhạy bén như tuổi thanh niên, mặc dầu chúng chưa có biổu hiộn gì
để với trình độ hiểu biết ngày nay có thể coi là bổnh lý. Trong cuộc sống, từ
lúc sơ sinh đến tuổi trưởng thành, chúng ta ai cũng có lần bị các bệnh viêm nhiỗm
thường gặp: viêm amiđan, viêm họng, viêm tai chảy mu, viêm xoang, sâu răng, cho
đến các bệnh sởi, thuỷ đậu, ho gà, ỉa chảy v.v... Các loại vi sinh vật từ các bộnh
kể trôn đéu có dịp đi qua thận; vậy ai có thể khảng định được ràng chúng không
gây ra tổn thương cho thận, ngay cả khi chúng đã chết? Không phải ngẫu nhiốn mà
nhà giải phẫu bệnh học Tây Đức, sau khi mổ một vạn thi thể, thấy số trường hợp
có tổn thương thận lôn tới 11, 6%\ nhưng trên lâm sàng, các bệnh nhân trôn lại
chết vì một bệnh khác (W. Hage). Còn hai nhà giải phẫu bệnh học là Weiss và
Parker thì lại thấy tổn thương thận phối hợp ở các thi thể do các ông mổ đã lên
tới 20%2. Tác giả Mác Manus lại cho một số liệu tuyệt đối: tất cả mọi người,
khi cao tuổi đểu có tổn thương thân măc dầu không có triệu chứng trên lâm sàng.
Như
vậy, phải chăng hoạt động thanh khiết nội môi của thận khi tuổi đời 45-50 thì
có phần đã giảm sút? Xu hướng tăng một số yếu tố cặn bã lúc cao tuổi như: tăng
cholestrin, p-lipoprotein, tăng độ đông máu va giảm khả năng cô đặc nươc tiểu,
phải chăng là biểu hiện của một số quá trình ô nhiễm nội môi không được điều chỉnh?
Để có thêm tư liệu đi sâu vào vấn đề này, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách khảo
sát lại những điểm cơ bản của lý; thuyết nội môi.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét