Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 6)
21:24 |
4- Độ tan-kiềm hay PH của nội môi
Chúng
ta ai cũng biết công thức của nước tinh khiết là H20, nước không phải là chất
phân ly mạnh, chỉ có một số ít phân tử phân ly thành H+ và OHT' Độ toan kiềm của
một dung dịch được quyết định bằng hàm lượng các ion H+ và OH' phân ly tự do
đó. Trong nước tinh khiết, nồng độ ion H+ và OIT ngang bằng nhau, tức là bằng
"0,000.000.1" hay (1 X 10'7). Chúng ở trong trạng thái cân bằng.
Nếu
ion H+ tăng lên, ví dụ từ "1 X 10 '7 " tăng lên "1 X 10-6 "
thì nồng độ ion OH' sẽ giảm đi từ "1 X 10'7" xuống "1 X 10‘8
" để giữ cho tích số hai ion (H+) X (OH-) luôn luôn ở mức không thay đổi.
Ta gọi đó là “ Hằng số phân ly” của nước bằng:(H+) X (OH-* = (1 X 10 -7) X (1 X
10 '7Ỉ= (1 X 10 ‘l\
Nồng
độ H+ tăng lên bao nhiêu thì nồng độ OH* sẽ giảm xuống bấy nhiêu.
Trái
lại nồng độ OH* tăng thì nồng độ H+ sẽ giảm, và bao giờ tich số của chúng vấn
không đổi. Người ta lợi dụng tích "hằng định" này để biểu diễn nồng độ
H+ và OH" của những dung dịch khác nhau và thông qua đó biết tính chất
"toan-kiềm" của nó. Chỉ cần nêu lên nồng độ H+ đã có thể biết được nồng
độ ion OH"; vì vậy, trong thực tế, người ta chỉ cần biểu thị ion H+. Nếu nồng
độ ion H+ của một dung dịch cao hơn của nước tinh khiết, tức là trên "1 X
10’7" thì dung dịch đó có phản ứng axit (toan). Ngược lại nếu nồng độ ion
H+ thấp hơn của nước thì dung dịch đó phản ứng kiềm. Nãm 1889, nhà bác học Đức
là w. Nemst dùng phương pháp điện kế để đo nồng độ ion H+ trong dung dịch mở ra
khả năng đo đạc chinh xác độ toan-kiềm của dung dịch nội môi. Năm 1909, s.
P.Soerensen là người đầu tiôn nghĩ ra và định nghĩa khái niệm “pH”1 (là hai chữ
đầu tiên của từ tiếng Pháp "pouvoir en Hydrogène". Ông lấy số logarit
âm của nồng độ ion H+ của dung dịch để chỉ độ "toan- kiềm" của dung dịch
đó: pH= - log(H*)
Để
tiện lợi, Soerensen đề nghị bỏ dấu (-) của số mũ và bỏ cả cơ số 10; chỉ dùng số
mũ của lũy thừa để biểu thị. Ví dụ: nồng độ ion H+ của nước là "1 x
lơ’7" thì sỗ biểu thị là: "pH = 7 ". Đó cũng là chỉ số của những
dung dịch trung tính như nước. Nồng độ ion H+ của huyết thanh là 0,000.000.04 tức
là "4 X 10'7 " hoặc (1 X lO*7**).
Như
vậy, pH huyết thanh là 7.4. Những dung dịch có nồng độ ion H+ cao hơn của nước
(pH <7) là các dung dịch tan. Các dung dịch có nồng độ ion H+ thấp hơn nước
(pH>7) là những dung dịch kiềm.
*
pH của máu bình thường giữ trong khoảng từ 7,35 đến 7,45. Người ta lấy số trung
bình là 7,4. Cơ thể duy trì được pH luôn luôn hằng dịch là nhờ hoạt động điều
chỉnh của thận và của hệ thống đềm của máu.
Hệ
thống đêm trong máu có nhiều, nhưng quan trọng nhất là hệ thống:
Bicácbônat: C03HNa
Axit
Cacbônic: CỐ3H2
Tức
là: kiềm mạnh Axit yếu
Khi
cố một axit manh đột nhập vào máu thì chất bieacbonat sẽ được huy động để giữ
thăng bằng.
Ta
ký hiộu axit mạnh đỏ (mang ion H+) là “AH” ta sẽ thấy phản ứng xảy ra như sau:
CO-ịHNA
+ AH —► C03H2 + M.Na
(Bicacbonat)+(Axit
mạnh) —► (Axit Cacboniọ)+(Muôi của Axit)
Như
thế là cơ thể đã dùng hệ thống đệm để thay một Axít mạnh AH bằng một Axit yếu
là CỌ3H2 và tạo thành một muối M.Na. Muối đó sẽ được cợ thể sử dụng hoặc sẽ bị
thải qua thận. Còn axit cacbonic là một axit yếu rắt dễ phân ly thành C02 và nước:
—►C03H2
C02
+ H20 Cả hai thứ này đểu do phổi thải ra. Kết quả là pH máu không thay đổi.
Khi
có một chất kiềm vào máu, cơ thể cũng sẽ dùng hệ thống đệm trên để dung hoà. Ta
ký hiệu chất kiềm mang ion OH" bằng (BOH). Phản ứng sẽ sảy ra như sau:
C03H2+BOH
—► CO3HB + H2O
lon
OH’ của chất kiềm được chuyển thành nước và hình thành thêm bicacbonat ưong
máu. Do đó định lượng bicacbonat trong máu có thể phản ảnh một phần trạng thái
axit hay kiềm của cơ thể. Người ta gọi “dự trữ kiềm” chính là lượng bicacbonat
có trong huyết tương, được định lượng một cách gián tiếp qua thể tích khí C02
tính theo số mililit bốc ra trong lOOml huyết tương. Bình thường lượng đó là từ
50 đến 65ml. Người suy thận nặng nội môi bị nhiễm toan, có khi chỉ số dự trữ kiềm
xuống đến 15ml% hay thấp hơn nữa. Khi bị nhiễm kiềm thì chỉ số đó có thể lên tới
100ml%.
Cơ
chế điều hoà pH nội môi, một phần bằng đường thông khí của phổi, thông qua việc
thải bớt Axit cácbonic dưới dạng C02 và hơi nước; còn phần quan trọng là do chức
năng thận đảm nhiệm. Thân duy chì tính ổn định của pH máu bằng 3 quá trình:
Bài
tíêt ion H+ qua nước tiểu. Mức chênh lệch của nồng độ ion H+ giữa nước tiểu và
huỳết tương biến đổi giữa 1.000 và o.l1. Phần lớn ion H+ được loại bằng cách tạo
thành các muối Amoni (NH2*). Mỗi ngày thải rạ chừng 40- 50 mili đương lượng. Do
đó pH huyết tương ổn định ở 7.4; còn pH nước tiểu thì biến đổi tuỳ theo nồng độ
ion H+: từ 4.4 đến 8.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Home








Previous Article