Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 6)

21:24 |

4- Độ tan-kiềm hay PH của nội môi
Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 6)

Chúng ta ai cũng biết công thức của nước tinh khiết là H20, nước không phải là chất phân ly mạnh, chỉ có một số ít phân tử phân ly thành H+ và OHT' Độ toan kiềm của một dung dịch được quyết định bằng hàm lượng các ion H+ và OH' phân ly tự do đó. Trong nước tinh khiết, nồng độ ion H+ và OIT ngang bằng nhau, tức là bằng "0,000.000.1" hay (1 X 10'7). Chúng ở trong trạng thái cân bằng.

Nếu ion H+ tăng lên, ví dụ từ "1 X 10 '7 " tăng lên "1 X 10-6 " thì nồng độ ion OH' sẽ giảm đi từ "1 X 10'7" xuống "1 X 10‘8 " để giữ cho tích số hai ion (H+) X (OH-) luôn luôn ở mức không thay đổi. Ta gọi đó là “ Hằng số phân ly” của nước bằng:(H+) X (OH-* = (1 X 10 -7) X (1 X 10 '7Ỉ= (1 X 10 ‘l\

Nồng độ H+ tăng lên bao nhiêu thì nồng độ OH* sẽ giảm xuống bấy nhiêu.

Trái lại nồng độ OH* tăng thì nồng độ H+ sẽ giảm, và bao giờ tich số của chúng vấn không đổi. Người ta lợi dụng tích "hằng định" này để biểu diễn nồng độ H+ và OH" của những dung dịch khác nhau và thông qua đó biết tính chất "toan-kiềm" của nó. Chỉ cần nêu lên nồng độ H+ đã có thể biết được nồng độ ion OH"; vì vậy, trong thực tế, người ta chỉ cần biểu thị ion H+. Nếu nồng độ ion H+ của một dung dịch cao hơn của nước tinh khiết, tức là trên "1 X 10’7" thì dung dịch đó có phản ứng axit (toan). Ngược lại nếu nồng độ ion H+ thấp hơn của nước thì dung dịch đó phản ứng kiềm. Nãm 1889, nhà bác học Đức là w. Nemst dùng phương pháp điện kế để đo nồng độ ion H+ trong dung dịch mở ra khả năng đo đạc chinh xác độ toan-kiềm của dung dịch nội môi. Năm 1909, s. P.Soerensen là người đầu tiôn nghĩ ra và định nghĩa khái niệm “pH”1 (là hai chữ đầu tiên của từ tiếng Pháp "pouvoir en Hydrogène". Ông lấy số logarit âm của nồng độ ion H+ của dung dịch để chỉ độ "toan- kiềm" của dung dịch đó: pH= - log(H*)

Để tiện lợi, Soerensen đề nghị bỏ dấu (-) của số mũ và bỏ cả cơ số 10; chỉ dùng số mũ của lũy thừa để biểu thị. Ví dụ: nồng độ ion H+ của nước là "1 x lơ’7" thì sỗ biểu thị là: "pH = 7 ". Đó cũng là chỉ số của những dung dịch trung tính như nước. Nồng độ ion H+ của huyết thanh là 0,000.000.04 tức là "4 X 10'7 " hoặc (1 X lO*7**).

Như vậy, pH huyết thanh là 7.4. Những dung dịch có nồng độ ion H+ cao hơn của nước (pH <7) là các dung dịch tan. Các dung dịch có nồng độ ion H+ thấp hơn nước (pH>7) là những dung dịch kiềm.
* pH của máu bình thường giữ trong khoảng từ 7,35 đến 7,45. Người ta lấy số trung bình là 7,4. Cơ thể duy trì được pH luôn luôn hằng dịch là nhờ hoạt động điều chỉnh của thận và của hệ thống đềm của máu.

Hệ thống đêm trong máu có nhiều, nhưng quan trọng nhất là hệ thống:

Bicácbônat:     C03HNa
Axit Cacbônic:            CỐ3H2
Tức là: kiềm mạnh Axit yếu

Khi cố một axit manh đột nhập vào máu thì chất bieacbonat sẽ được huy động để giữ thăng bằng.
Ta ký hiộu axit mạnh đỏ (mang ion H+) là “AH” ta sẽ thấy phản ứng xảy ra như sau:

CO-ịHNA + AH —► C03H2 + M.Na
(Bicacbonat)+(Axit mạnh) —► (Axit Cacboniọ)+(Muôi của Axit)

Như thế là cơ thể đã dùng hệ thống đệm để thay một Axít mạnh AH bằng một Axit yếu là CỌ3H2 và tạo thành một muối M.Na. Muối đó sẽ được cợ thể sử dụng hoặc sẽ bị thải qua thận. Còn axit cacbonic là một axit yếu rắt dễ phân ly thành C02 và nước: —►C03H2

C02 + H20 Cả hai thứ này đểu do phổi thải ra. Kết quả là pH máu không thay đổi.
Khi có một chất kiềm vào máu, cơ thể cũng sẽ dùng hệ thống đệm trên để dung hoà. Ta ký hiệu chất kiềm mang ion OH" bằng (BOH). Phản ứng sẽ sảy ra như sau:

C03H2+BOH —► CO3HB + H2O

lon OH’ của chất kiềm được chuyển thành nước và hình thành thêm bicacbonat ưong máu. Do đó định lượng bicacbonat trong máu có thể phản ảnh một phần trạng thái axit hay kiềm của cơ thể. Người ta gọi “dự trữ kiềm” chính là lượng bicacbonat có trong huyết tương, được định lượng một cách gián tiếp qua thể tích khí C02 tính theo số mililit bốc ra trong lOOml huyết tương. Bình thường lượng đó là từ 50 đến 65ml. Người suy thận nặng nội môi bị nhiễm toan, có khi chỉ số dự trữ kiềm xuống đến 15ml% hay thấp hơn nữa. Khi bị nhiễm kiềm thì chỉ số đó có thể lên tới 100ml%.
Cơ chế điều hoà pH nội môi, một phần bằng đường thông khí của phổi, thông qua việc thải bớt Axit cácbonic dưới dạng C02 và hơi nước; còn phần quan trọng là do chức năng thận đảm nhiệm. Thân duy chì tính ổn định của pH máu bằng 3 quá trình:


Bài tíêt ion H+ qua nước tiểu. Mức chênh lệch của nồng độ ion H+ giữa nước tiểu và huỳết tương biến đổi giữa 1.000 và o.l1. Phần lớn ion H+ được loại bằng cách tạo thành các muối Amoni (NH2*). Mỗi ngày thải rạ chừng 40- 50 mili đương lượng. Do đó pH huyết tương ổn định ở 7.4; còn pH nước tiểu thì biến đổi tuỳ theo nồng độ ion H+: từ 4.4 đến 8.

Đọc thêm tại:

Read more…

Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 5)

21:23 |
3- Áp suất thẩm thấu của Nội môi
Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 5)

Như ta đã biết, trong dịch gian bào, chất Natri là ion dương chủ yếu; chất Qo và Bicacbonat là hai ion âm chính. Chứng quyết định từ 90 đến 95% áp suất thẩm thấu của dịch gian bào. Hai ion Na+ và Q ' là thành phần của muôi ăn. Chất này lại phân lý triệt để và cổ độ khuếch tán cao, nên nó quyết định đến 80% áp suất thần thấu chung. Vì thế muối ãn hàng ngày đóng vai trò chù đạo trong sự thăng bằng nước và điện giải của cơ thể. Nếu thiếu muối NaCl sẽ dẫn đến rối loạn chất điện giải. Thiếu riêng ion C1 *' cơ thể có thể bù bằng ion C03H‘, nhưng thiếu Natri thì sự thay thế bằng các ion đương khác như Ca+, K+,Mg+, sẽ bị giói hạn rất nhiều; vì tăng nồng độ các ion dương ấy trong cơ thể đều có thể gây nên nhiễm độc, Áp suất thẩm thấu của huyết tương người và của những động vật máu nóng đều tương đương với một dung dịch muối Naơ 0,9%. Dung dịch đó dược gọi là “ dung dịch sinh lý”i có độ đông băng là đelta =0,56° ,c (gọi là băng điểm). Độ hạ băng điểm của một dung dịch tỷ lệ với áp suất thẩm thấu. Độ hạ băng điểm của huyết tương loài máu lạnh (như ếch nhái) bằng đelta = 0,40°c, tương ứng với dung dịch 0,65% muối NaCl, dung dịch đó là dung dịch sinh lý đối với loài ếch. (Đối với người thì nồng độ đó lại là nhược trương). Đơn vị để đo áp suất thẩm thấu của một dung dịch là “osmol” (viết tắt là osm) tức là áp suất thẩm thấu của một phân tử gam một chất không phân ly (như đường glucôza) hoà trong một lít. Lúc ấy nó có độ hạ băng điểm đelta= l,86°c, tương ứng vội 1 osm (cũng bằng một phân tử gam của một chất ở thể khí chứa trong một lít, cộ áp suất là 224 atmotphe). Ở trong cơ thể sinh vật, thường dùng đơn vị là một phần ngàn osmol, gọi là “miliosmol” (viết là mosm).


Ở người, áp suất thẩm thấu của huyết tương bình thường thay đổi trong khoảng từ 7,7 đến 8,1 atm tương đương với 344 đến 361,5 mosm. Đó là áp suất của dung dịch 0,9% muối Naơ (đelta = - 0,56°C), ta gọi là dùng dịch đẳng trương). Dung dịch nào có áp suất thẩm thấu nhỏ hơn (đelta < -0,56°C) là dung dịch nhược trương. Trái lại dung dịch có nồng độ muối cao quá 0,9% (đelta > 0,56°C), gọi là dung dịch ựu trương. Để quan niệm được tầm quan trọng của áp lực thẩm thấu trong các dịch sinh vật, ta nên biết thêm thí nghiệm các dung dịch có nồng độ muối khác nhau trên hồng cầu người. Khi ta thả hồng cầu người vào một dung dịch nhược trương (hay nước cất), hồng cầu sẽ trương lên và vỡ ra. Nguyên nhân do sự chênh lệch về áp suất thẩm thấu giữa bên trong và bên ngoài hồng cầu, áp xuất bên ngoài thấp làm chúng trương lên và vỡ màng: hồng cầu bị huỷ. Ngược lại, nếu ta cho hồng cầu vào dung dịch muối có nồng độ cao hơn 0,9% hồng cầu sẽ bị teo lại vì nước trong hồng cầu bị áp xuất mạnh bên ngoài kéo ra. Như vậy hổng cầu chỉ có thể tồn tại với một áp suất thẩm thấu nhất định của môi trường xung quanh. Do đó, các dung dịch tiêm truyền vào cơ thể, với khối lượng lớn bao giờ cũng phải là dung dịch đẳng trương (ví dụ: dung dịch 0,9% muối NaCl và dung dịch 5,4% đường glucoza).

Đọc thêm tại:

Read more…

Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 4)

21:22 |
2-các chất điện giải trong nội môi
Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 4)

Các chất điện giải dịch nội môi gồm các ion dương như Natri, Kali, Magie, Canxi.., gọi là các Cation; và các ion âm như Clo, Bicatbonat, Phốtphát, Sun phát, cac Protein và các ion hữu cơ khác, gọi là Anion. Các ion dương bao giờ cũng cân bằng với ion âm. về phương diện điện hoá học, cầc chất trong dịch nội môi là trung hoà.

Chất điện giải mang điện tích dương quan trọng nhất trong dịch nội môi là Na+; còn chất điện giải mang điện tích ẩm quan trọng nhất là C1Bicacbonat và các Protein. Nồng độ các chất điện giải trong máu và trong dịch gian bào như sau: (tính ra mili đương lượng hay “milli-équỉvalerit”, kí hiệu là mEq/ trong 1 lít).

Trong thực tế, nồng độ các chất điện giải không phải là một con số cố định như trong bảng thống kê trên. Nó có phạm vi thay đổi cho phép, gọi là độ “giao dộng sinh lý”. Ví dụ: nồng độ Na+ thay đổi từ 138 đến 146 mEq/1, Bicacbonat từ 24 đến 28 mEq/l huyết tương. Các chất khác cũng cố độ dao động như trên.
Giữa dịch gian 
bào và huyết tương cách nhau bằng lớp tế bào mỏng của thành mao mạch. Thành mao mạch đóng vai trò một màng siêu lọc và dịch gian bào là kết quả của tác dụng siêu lộc đổ: các thành phần điện giải thì gần giống như trong huyết tương, chi vắng mặt các phần tử hữu hình của máu(hồng cầu, bạch cầu, tiểu cẩu) và không để lọt các protein có phần tử lượng lớn quá. Điều chỉnh và giữ vững nồng độ các chất trên với một hằng số thích hợp, luôn luôn ổn định là nhiệm vụ của thận. Thực ra, ở đây chỉ kể đến một số chất điện giải chính có tác dụng đến áp lực thẩm thấu của thành mạch.
Còn hàng chục chất khác cũng có mặt trong máu và trong dịch gian bào với một lượng rất nhỏ gọi là các chất vi lượng, rât cần cho sự tồn tại của cơ thể, nồng độ cũng phải được giữ thăng bằng. Ta hãy lấy ví dụ như một số chất:

Chất lốt: chỉ cần mỗi ngày 1/10 mg, nhưng thiếu nó thì tuyến Giáp sẽ không có nguyên liệu cấu tạo nên hocmôn và sẽ phát sinh bệnh bướu cổ; thường hay thấy ở đồng bào miền thượng du, xa biển là nơi có bầu không khí bị thiếu nguyên tô' lốt.

Để đề phong bệnh do thiếu lốt sinh ra, người ta phải nghĩ đến cách cho một lượng rihỏ lốt vào muối ăn hàng ngày để cung cấp cho đồng bào miền núi.

Các chất Điên giải dương;

Các chất điện giải        Trong máu       Trong gian bào
Na+                             142 mEq/1       141mEq/l
K*                               4 -—...             4 —...
Ca+                             5                      4,5      
Mg+                            3                      2,5 -----
Tổng cộng các cation  154                  152 ——

Các chất điện giải        Trong máu       Trong gian bào
CT                               103 mEq/1       114mEq/I
Htxv                            27                    30       
P04--                           2                      2         
so;-                              1                      1         
Axit hữu cơ'                5                      5         
Protêin 16                    0         
Tổng cộng các anion   154                  152     

Chất Sắt: cần cho sự tạo ra huyết cầu tố, cho sự hình thành các men hô hấp. Các chất đồm, kẽm, manean.côban, silic...hết thảy đều chỉ cần vói lượng rất nhỏ. Tăng nồng độ của chúng trong máu sẽ dẫn đến sự rối loạn ở nhiều hệ men sinh học cần thiết cho sự sống, nhưng thiếu nó cũng sẽ dẫn đến những biến loạn trong hệ thống "men" chuyển hóa trung gian.


Hai quả thận được ví như một kẻ “cầm cân nẩy mực”, có trách nhiệm đào thải bớt qua nước tiểu, khi khẩu phần ăn vào quá nhiều thành phân các chất đó, hoặc hấp thụ lại để tránh sự lãng phí khi khẩu phần ăn thiếu hụt những chất ấy. Cơ chế điều chỉnh các chất điện giải cùa thận có hên quan đến các hocmon vỏ thượng thận, gọi là hocmon chuyển hoá các chất khoáng hay là chất Andosteroỉ. Chất này tác động vào quá trình vận chuyển lon Natri một cách tích cực của tế bào ống thận ở khu vực "ống lượn gần". Ở những con vật bị cắt tuyến thượng thận, người ta thấy lượng Natri hấp thụ giảm hẳn ở đoạn này,so với những con vật làm chứng. Trong khi đó thi chất Kali được giữ lại quá mức. Na+ bị thải nhiều sẽ kéo theo cr theo, đổng thời kéo theo nước gây nên tình trạng mất nước ngoài tế bào. Ở những người bị thiểu năng tuyến thượng thận cũng thấy có hiện tượng mất NaCl và tàng tỷ lệ Kali trong máu. Nếu ta tiêm một liều Andosterol tương úng, quá trình tái hấp thụ Natri sẽ lập tức được hồi phuc và sự cân bằng các lon cần thiết này lại trở về trạng thấi sinh lý bình thường.

Đọc thêm tại:

Read more…

Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 3)

21:21 |
Chúng tôi đã khảo sát khả năng thải nước của thận cho hai loại tuổi dưới 45 và trên 60 tuổi bằng cách cho mỗi người uống trong 10 phút 750ml nước lã đun sôi để nguội vào buổi sáng lúc chưa ăn, trong điều kiện khí hậu mát mẻ (về mùa thu)1. Chúng tôi đã thu được kết qủa như sau:
Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 3)

* Ớ nhóm thứ nhất: mười người từ 25 đến 45 tuổi, vào khoa kiểm tra trước khi đi công tác xa, không có bệnh tật gì cấp phát (trong số này có 3 nữ từ 25 đến 28 tuổi, còn đều là nam giới từ 38 đến 45 tuổi).
+ Lượng nươc tiểu trước khi xét nghiệm, trung bình cho mỗi phút (theo dõi trong 2 giờ): 0,5-l,5ml/ phút.
+ Lượng nươc tiểu trung bình sau khi uống nước kiểm tra, theo dõi trong 3,5 giờ:

-           Sau khi uống 30 phút: 1,0-1,5ml/ phút
-           Sau-khi uống 45 phút: 5,0ml/ phút
-           Sau khí uống 60 phút: 70,0 ml/ phút
-           Sau khi uống 120 phút:           6,3 ml/phút

1 Chúng tôi không cho uống lượng nước tới 1000 ml như trong các sách giáo khoa châu Âu,vì trọng lượng người ViêtNam trung binh chỉ nặng 50 kg (người Ầu tới 70-80 kg).
6.0       ml/phút
3.0       ml/phút
0,8 ml/phút
-           Sau khi uống 150 phút
-           Sau khi uống 180 phút
-           Sau khi uống 210 phút

* Ở nhóm thứ hai: 35 ngừoi già từ 60 tuổi trở nên (có 14 người trên 70 tuổi), không có dấu hiệu suy thận trên lâm sàng và xét nghiệm.
+ Lượng nước tiểu trước khi xét nghiệm, trung bình trong mỗi phút(theo dõi tròn hai giờ): 0,5-0,7 ml/phút.
+ Lượng nước tiểu trung bình trong mỗi phút, sau khi uống thep dõi trong 4,5 giờ:

-Sau 30phút :  Ó,7ml/phút
- Sau 45 phút : 1,0 ml/ phút
- Sau 60 phút : 1,2 mự phút
- Sau 90 phút : 4,3 ml/ phút
- Sau 120 phút:            4,2 mỉ/ phứt
- Sau 150 phút:            4,2 ml/ phút
- Sau 180 phút:            4,0 ml/ phút
- Sau 210 phút:            3,5 ml/ phút
r Sau 240 phút:            3,5 ml/ phút
- Sau 270 phút:            3,5 ral/ phút
- Sau 270 phút:            1,0-13ml/phút


Kết quả cho thấy rõ ràng ở tuổi 60 trở nên, khả năng thải nước tiểu thừa của thận bị chậm và kéo dài ra. Ở người trẻ thời gian thải tối đã bắt đầu sau khi uống 60 phút và kéo dài trong 1 giờ, với đỉnh tối đa 70ml/phút. Ở người già, sau khi uống 90 phút mới đạt mức thải tối thiểu là 4,3 ml/ phút, và kéo dài trên 2,5 giờ. Điều này liên quan đến hiện tượng suy giảm của cả hai quă trình: giảm kín đáo về độ lọc cầu thận và giảm cả mức tái hấp thụ ở ống thận. Đó là lý do làm cho người già hay đi tiểu đêm. Không kể những người già chết vì bệnh thận, chúng tôi theo dõi 11 ngừơi già chết về các bệnh tim mạch và tai biến mạch máu não cũng như ung thư phổi, trong năm 1973-1974 ở bệnh viện khi giải phẫu thi thể đều thấy thận có nhiều ổ xơ hoá tổ chức kẽ ở mức độ trung bình, mặc dầu trên lâm sàng không có dấu hiệu bệnh thận.

Đọc thêm tại:

Read more…

Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 2)

21:20 |
Nếu lượng nước trong dịch nội môi giảm, thận phải điều chỉnh tăng cường quá trình tái hấp thụ nước ở ống thận, làm cho lượng nước tiểu giảm đi. Cơ chế điều chỉnh nước và muối thường đị đôi vái nhau. Nếu cơ chế đó bị tổn thương do những quá trình bệnh lý ở thận thì có thể gây nên sự ứ đọng nước và muối ở kẽ gian bào biểu hiện ra ngoài bằng triệu chứng phủ nề thường gặp.
Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 2)

Lượng nước trao đổi hàng ngày rất cần thiết để thực hiện quá trình thay cũ đổi mới của cơ thể. Muốn giữ vững sức khoẻ lâu dài, hàng ngày cơ thể con người phải được tiếp tế đủ lượng nước cần thiết. Thói quen uông quá ít nước, cũng như thói quen uông quá nhiều nước một lúc là những tập tính không hợp vệ sinh và không lợi cho việc bảo vệ sức khoẻ.

Trong 24 giờ, :ở nhiệt độ ngoại cảnh trụng bình 25tìc, một người lớn tuổi làm lao động thể lực nhẹ (nội trợ), lượng nước thải ra bình thường như sau:

- Thải qua nước tiểu 1500ml
- Theo mồ hôi bốc hơi qua da 450ml
- Theo hơi thở qua phổi          550ml
- Theo phân     150ml
Tổng số           2650ml

Lượng nước ấy phải được bù vào qua khẩu phần hàng ngày, phân bố bình thường như sau:

- Nước uống vào         1300ml
- Nước qua thức ăn     1300ml
- Nước tạo thành do quá trình Ôxy hoá các chất ttong cơ thể           350ml
Tổng cộng       2650ml

Người ta gọi đó là sự cân bằng trong trao đổi nước hang ngày của cơ thể. Đó là một nhiệm vụ vô cùng quân trọng để duy trì cuộc sống bình thường. Điều chỉnh sự cân bằng nước là nhiệm vụ của một trung khu thần kinh thực vật nằm ở vùng dưới đồi (hypothalamus) của nẵo trung gian. Trung khu này hoạt động dưới sự chi phối của một nội tiết tố của thuỳ sau tuyến yền, gọi là (hocmon chống lại bài niệu” kí hiệu bằng ADH. Kích thích trung khu này trên súc vật thí nghiệm, lập tức làm cho lượng nước tiểu tăng lên và sẽ tạo ra loại nước tiểu loãng có tỷ trọng thấp, do lượng nước thải ra quá nhiều mà các chất hoà tan ít. Đó cũng là cơ chế của bệnh “đái tháo nhạt” thường gặp ở một số bệnh nhân. Những người này luôn luôn có cảm giác khát, phải uống nước luôn và lượng nước tiểu hàng ngày có thể từ lên 5 đến 10 lít hay hơn nữa. Hocmon ADH ức chế kích thích đó, nó tác động ỉên tính thẩm thấu của các tế bào thận ở đoạn “ống lươn xa” và đoạn “ống chung” làm i tăng quă trình tái hấp thu lại nước và làm giảm nhanh chóng lượng nước tiểu thải ra. Trên người, chỉ cần tiêm tĩnh mạch một liều rất nhỏ là 2.10‘9 gam ADH (tức là 0,000.000.002 gam) đã thấy lượng nước tiểu giảm rõ rệt. ở người bình thường lượng nước cần thiết được uống vào thông qua cảm giác khát. Trung khu cảm giác khát cũng ở vùng dưới đồi (hypothalamus) cạnh trung khu bài niệu. Nó hoạt động do sự nhạy cảm của các tế bào vùng đó đối vói sự thay đổi áp lực thẩm thấu của dịch gian bào cũng như của áp lực máu.

Khi áp lực thẩm thấu dich gian bào hoặc trong máu tăng, tức la có sự tăng nồng đọ muối, trung tâm ấy tạo ra cảm giác khát va hạn chế tiết nước bọt (gây ra khô miệng) làm cho ta, muốn uống nứơc.

Thí nghiệm kích thích trung tâm này bằng điện, trên súc vật sẽ gây cho con vật khát nước và uống nước không biết chan, uống cho đến khi chết nếu kích thích ấy vẫn còn. Dùng một kim nhỏ để đưa một dung dịch nước muối ưu trương vào qua trung tâm này cũng gây nên cảm giác khát. Trên thực tế, nếu ta tiêm nước muối ưu trương vào qua trung tâm này cũng gây nên cảm giác khát, trong khi đó nếu tiêm nước muối đẳng trương (dù với khối lượng nhiều) thì cũng không gây cảm giác khát. Duy trì sự thăng bằng nước, thông qua khả năng thải nước ra khỏi cơ thể nhanh chóng, khi cho một lượng nước thừa vào đột ngột, là một khâu hoạt động chức năng quan trọng của thận. 

Đọc thêm tại:

Read more…

Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 1)

21:19 |
Dịch nội môi là bộ phận cấu tạo nên môi trường bên trong của cơ thể, tức là khoảng không gian sống mà cả quần thể gồm 100.000 tỷ tế bào của con người nhờ đó mà tồn tại. Mỗi tế bào trong quần thể khổng lồ đó đều có một khoảng không gian để sống: đó là vỉ môi trường, vi ngoái cảnh đối với tế bào. Nó là dung dịch sinh lý chảy trong mọi ngóc ngách giữa các tế bào mà các thành phần đó có tính chất hằng định vể mọi thông số các chất cần cho sự sống của tế bào, cũng như các chất cặn do tế bào thải ra. Gác thông số ấy tuân theo sự điều Chỉnh chung của cơ thể một cách nghiêm ngặt, luôn luôn được ở một ngưỡng gọi là ngưỡng sinh lý bình thường của mọi tế bào. Đó chính là những hằng số sinh học của con người.

Đại cương về lý thuyết nội môi (Phần 1)
Hơn một trăm năm về trước, nhà sinh lý học lỗi lạc của thế giới là Claude Bemard đã phát hiện rẳng môi trường mà cơ thể đang sống không phải chỉ là không khí bao quanh ta mà còn là dịch nội môi; tức là máu và dịch gian bào tắm đầy mọi cơ quan phủ tạng và mọi tế bào cơ thể. Nội môi như một “võ trụ” riêng biệt được bảo vệ vững chắc, chống mọi sự xâm lấn hay thẩm lậu của các yếu tố công kích của ngoại môi, để giữ sự cân bằng và tính ổn định của nó. Nội môi được những cơ quan chuyên trách bảo vệ và điều chính, chủ yếu là hai quả thận cùng những hoạt động chức năng nặng nề và phức tạp của nó. Nhờ hoạt động điều chỉnh của thận, nội môi luôn luôn được giữ vững về các mặt: khối lượng, áp lực thần thấu, áp lực keo, độ hoà tan ôxy và khí cacbonic, nồng độ các chất điện giải, sự cân bằng về các chất tích điện dương (cation) và tích điện âm (anion), sự cân bằng các chất toan kiềm; cũng như hàng trăm ngàn các hằng số sỉnh học khác về các chất dinh dưỡng; về nồng độ các men, các chất nội tiết, các vitamin, các chất vi lượng và cả các chất độc hình thành trong quá trình chuyến hổa trung gian cua cơ thể như urê, crêatinin, đạm cặn, đạm dư v.V..;Như vậy thì vai trò của Thận trong vấn đề điều hoà và giữ vững các yếu tố nội môi, để bảo toàn cuộc sống hài họà và có trật tự rất cao của quần thể khổng tồ các tế bào cơ thể là vô cùng quan trọng. Ta hãy khảo sát từng yếu tố.

1-Nước trong Nội môi

Như chúng ta đã biết, nước chiếm phần lớn trọng lượng cơ thể con người. Ở tuổi 40-50, nó chiếm khoảng 60% sức nặng cũa cơ thể. Như thế, ta có thể tính ra một cách dễ dàng lượng nước trong mỗi người:

Nếu nặng: 35 kg nước chiếm 21 kg
      40 kg                     24 kg
      50 kg                     30 kg
      55 kg                     33 kg
      60 kg                     36 kg
      65 kg...                  39 kg
      70 kg                     42 kg

Lượng hước ấy phân bố không đều trong cơ thể.
Nó chiếm: 72% trọng lượng da.

75,6%  bắp thịt
74,8%  não
79,1%  tim và phổi
75,8%  lách
74,5%  ruột
82,7%  thận
83,0%  máu
68,3%  gan

Trong xương, nước chỉ chiếm 22%; trong tổ chức mỡ, nước càng ít hơn, chỉ chiếm 10%. Khi lớn tuổi, cơ thể nhiều người thườngbéo ra; vì vậy sự mất nước ở người già liên quan một phần đến sự tăng thành phần mỡ này.


Nước cấu tạo nên dịch nội môi gồm; nước lưu thông trong máu (5%) và nước trong kẽ gian bào (16%); cộng với một phần nhỏ nước trong tuỷ sống, trong màng khớp, trong các tuyến tiêu hoá (2%). Như vậy là tổng số nước trong dịch nội môi chiếm khoảng 23% trọng lượng cơ thể; còn 37% nước là nằm ngay trong tế bào, gọi là nước nội tế bào. Một người nặng 50 kg lúc 40 tuổi, có lượng nước nội môi là ll,5 kg, tức là 11,5 lít (kể cả 2,5 lít lưu thông trong máu) và 18,5 lít nước nằm trong tế bào cơ thể (hình 5). Như thế là nước cơ thể gần 1/3 nằm ở kẽ gian bào. Chỉ có 1/12 tổng lượng nước ấy là dùng để trao đổi với môi trường bên ngoài hàng ngày, thông qua các cơ quan chính là thận, đường tiêu hoá, phổi (hơi thở) và da (mồ hôi). Khi tổng lượng nước cơ thể mất từ 12 đến 20% mà không được bù lại thì sẽ dẫn đến cái chết do khát. Lượng nước nội mồi là phương tiện tiếp xúc của mọi tế bào cơ thể đối với ngoại cảnh. Lượng nước đó luôn luôn được giữ hằng định. Nếu vì một lý do nào đó mà lượng nước tăng lên trong dịch nội môi (thường là tăng lượng nước lưu thông trong máu trước), như khi ta ăn mặn chẳng hạn, thì lập tức thận phải hoạt động để thải ra và kéo theo cả một lượng muối tương ứng.

Đọc thêm tại:

Read more…

Phải chống sự lão hóa tế bào

21:16 |
Đây là một vấn đề còn được ít người khảo sát đến mặc dầu vấn đề nội môi thì người ta đã biết từ trên một thế kỉ nay, do nhà bác học Pháp Claude Bemard phát hiện. Mọi tế bào trong cơ thể con người đều sống và hoạt động được một cách hài hoà, trật tự là nhờ chúng cùng ở trong một không gian thống nhất: đó là dung dịch nội môi. Có hàng ngàn yếu tố cấu tạo nên không gian đó mà ngày nay thật ra người ta cũng chưa biết hết.
Phải chống sự lão hóa tế bào

Khoa học về con người càng phát triển thì mỗi ngày người ta lại tìm thêm ra những chất mới. Khi khoa sinh hoá biết được các chất axit amin, glucoza, axit béo là những nguyên liệu cần thiết cho sự sống của cơ thể, thì người ta thây chúng không phải chỉ có mặt trong dòng máu mà còn có măt trong dich nôi môi. Khi các vitamin được khám phá thì vitamin cũng có măt trong dung dich nội môi. Khoa học phát hiện ra các men chuyển hoá trung gian, lập tức trong dịch nội môi cũng thấy dấu vết chúng. Rồi đến các muối khoáng, các chất vi lượn.., những gì cần thiết cho sự sống, người ta đều tìm thấy chúng trong dịch nội môi. Ngay cả những chất độc, sản phẩm cùa quá trình lên men thối trong ruột như các chất Phenol, Indol, SH2., mặc dầu chúng tồn tại trong cơ thể với một lượng vô cùng nhỏ, nhưng khi khoa học tìm ra được phương pháp phát hiện chúng thì đều thấy chúng có mặt trong dịch nội môi. Mọi tế bào đều tìm thấy chất cần thiết cho sự sinh trưởng và hoạt động của mình trong đó. Tế bào máu tìm thấy chất sắt để tạo ra huyết cầu tố; tế bào xương tìm thấy chất photpho, canxi, magiê để phát triển; tế bào tuyến Tụy tìm thấy yếu tố Kẽm để tạo ra Insulin; tế bào tuyến Giáp tìm thấy lốt để chế ra Thyroxin; tế bào tuyến dạ dày tìm thấy chất Clo để sản sinh ra axit dịch vị (ạxit Clohydric) v.v... Chúng lại cũng thải ra trong dịch nôi mội những chất cặn bã do chính chúng tạo ra: cơ2, NH2, Urê, Creatinin... Ngoài ra, mọi yếu tố của môi trường bên ngoài đều có thể xâm nhập vào môi trường bên trong qua ăn uống, qua hô hấp v.v.., làm tăng tốc độ ô nhiễm nội môi. Ví dụ: S02, co, 1   C02, hơi chì từ các đông cơ xe hơi, xe máy, từ các ống khói nhà maý xả vào không khí; con người hít phải, các hơi đó qua phổi sẽ khuếch tán vào máu rồi vàò nội môi.

Các sản phẩm của quá trình lên men thối ở ruột già khuếch tán qua thành ruột, theo máu đột nhập vào dịch nội môi. Các chất độc do thực phẩm đưa vào qua đường ăn uống: đồ ăn để ôi thiu, lên men, lên mốc tiết ra độc tố; các chất độc của mầm khoai tây, của vỏ sắn tươi, của mắt dứa v.v... cho đến các thuốc men, hoá chất uống vào, hết thảy đều xâm nhập vào dịch nội môi, làm ô nhiễm thêm môi trường sông của quần thể tế bào cơ thể.

Thử hỏi, cái gì sẽ xảy đến cho con người nếu buồng gan và hai quả thận không liên tục làm việc suốt 24 giờ/ngày để lọc chúng ra khỏi cơ thể? Phải chăng chính sự tích lũy âm thầm các chất độc phức tạp trải qua cả thời gian dài của đời người, trong đó có nhiều chất mà ngày nay chúng ta cũng chưa biết hết và nhiều chất dù đã biết cũng chưa có phương pháp đo lường chính xác, đã là nguyên nhân gây nên những quá trình thoái hoá tế bào trong cơ thể ? Chính chúng cũng là căn nguyên gây nên sự lão hoá thực thụ của con người và sinh vật?

Hai quả thận có nhiệm vụ phải làm thanh khiết môi trường bên trong cơ thể, giữ vững hàng ngàn hàng vạn yếu tố của cuộc sống mà mọi tế bào đã chấp nhận,   luôn luôn ở mức không đổi. Tạo hoá đã phú cho nó một kiến trúc tinh vi và hợp lý để đáp ứng cho được nhiệm vụ. Kiến trúc đó cũng đã phải trải qua hàng triệu năm tiến hoá (từ những sinh vật hạ đẳng đến con người) mới có được sự hoàn chỉnh như ngày nay. Chẳng những đối với các chất độc, mà ngay cả đối với các chất bổ cần thiết cho cơ thể, dù quý đến mấy nhưng nếu nồng độ chúng quá cao cũng đều bị thận tống ra ngoài nhanh chóng để giữ vững sự ổn định của mọi hằng số nội môi. Tuy nhiên, đáng tiếc là mặc dầu tạo hoá đã cho ta tới hai quả thận để dự trữ cho nhiệm vụ nặng nề như trên, nhưng nhiều khi hình như chúng vẫn chưa đủ độ bền để chịu đựng các yếu tô' công kích. Nhiều quá trình bệnh lỷ lan tràn hay từng ổ, dề dàng đánh vàó cả hai thận, làm suy yếu chúng, gây ra những vùng xơ hoá tiến triển âm thầm hàng chục năm để tiến đến “đánh gục” hẳn hai thận. Khi phát hiộn ra những triệu chứng ban đầu tương đối đã rõ ràng để làm vùă lòng những thầy thuốc khó tính, thì lúc ấy đã quá muộn để cứu vãn nó, mặc dầu với cả những biện pháp hiện đại ngày nay. Người ta đã biết rằng một người bị các quá trình viêm thận mạn tính âm thầm, khi cả hai thận đều bị hư hoại thì các dấu hiệu suy thận mới xuất hiện trên xét nghiệm sinh hoá, ure và creatinin mới tăng lên trong máu. Hàng ngày, hai thận thương bị hàng trăm yếu tố công kích, do sự tăng giảm các chất liệu của nội môi. Ngoài ra còn có những chất độc do biết bao thói hư tật xấu tròng sình hoạt con người đưa vào môi trường cơ thể bắt thận phải loại ra: chất nicotin củá thuốc lá, thuốc lào; tạp chất của rượu, chất kích thích của cà phê; chất độc của thuốc ngủ, chất chuyển hoá củạ các thức ần dư thừa... Mặt khác, cậc tác nhân gay bênh (vi sinh vật, hoá chất, kháng nguyên v.v. . .) khi đột nhập vào cơ thể, đều đi qua thận để tống ra ngoài. Vì chúng cũng là những sinh vật (hoặc các chất có tác động sinh vật) nên chúng không dễ dàng để cho thận [ọc ra, chúng công phá thận. Khi con người đã quá tuổi 40, ai có thể bảo đảm được rằng hai quả thận (một “cửa ải” cho biết bao yếu tố công kích đi qua, ngấm vào huỷ hoại liên tục, lại vẫn còn hoạt động được nhạy bén như tuổi thanh niên, mặc dầu chúng chưa có biổu hiộn gì để với trình độ hiểu biết ngày nay có thể coi là bổnh lý. Trong cuộc sống, từ lúc sơ sinh đến tuổi trưởng thành, chúng ta ai cũng có lần bị các bệnh viêm nhiỗm thường gặp: viêm amiđan, viêm họng, viêm tai chảy mu, viêm xoang, sâu răng, cho đến các bệnh sởi, thuỷ đậu, ho gà, ỉa chảy v.v... Các loại vi sinh vật từ các bộnh kể trôn đéu có dịp đi qua thận; vậy ai có thể khảng định được ràng chúng không gây ra tổn thương cho thận, ngay cả khi chúng đã chết? Không phải ngẫu nhiốn mà nhà giải phẫu bệnh học Tây Đức, sau khi mổ một vạn thi thể, thấy số trường hợp có tổn thương thận lôn tới 11, 6%\ nhưng trên lâm sàng, các bệnh nhân trôn lại chết vì một bệnh khác (W. Hage). Còn hai nhà giải phẫu bệnh học là Weiss và Parker thì lại thấy tổn thương thận phối hợp ở các thi thể do các ông mổ đã lên tới 20%2. Tác giả Mác Manus lại cho một số liệu tuyệt đối: tất cả mọi người, khi cao tuổi đểu có tổn thương thân măc dầu không có triệu chứng trên lâm sàng.


Như vậy, phải chăng hoạt động thanh khiết nội môi của thận khi tuổi đời 45-50 thì có phần đã giảm sút? Xu hướng tăng một số yếu tố cặn bã lúc cao tuổi như: tăng cholestrin, p-lipoprotein, tăng độ đông máu va giảm khả năng cô đặc nươc tiểu, phải chăng là biểu hiện của một số quá trình ô nhiễm nội môi không được điều chỉnh? Để có thêm tư liệu đi sâu vào vấn đề này, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách khảo sát lại những điểm cơ bản của lý; thuyết nội môi.

Đọc thêm tại:

Read more…

Sự lão hoá tế bào và sự lão hoá phân tử (Phần 2)

21:15 |
Tập hợp khổng lồ các tế bào trong cơ thể con người gồm hai loại lớn khác nhau cơ bản về khả năng thay thế:
Sự lão hoá tế bào và sự lão hoá phân tử (Phần 2)

- Loại tế bào thần kinh, gồm 14 tỷ cá thể, là loại tế bào chỉ có hao hụt đi mà không có qúa trình tái sinh thay thế.

- Loại còn lại là những tế bào có khả năng sinh sản thay thế những tế bào chết đi .

Nghiên cứu sự hoá gìa của những tế bào có khả năng sinh sản trong một ống nghiệm là một việc làm tương đối thuận lợi. Ta có thể lấy các tế bào này bất kì ở đâu (các bạch cầu của máu, các mô của mọi loại tế bào này).

Còn việc nghiên cứu sự lão hoá của loại tế bào không có khả năng thay thế như tế bào thần kinh thì là một điều khó khăn. May thay, tạo hoá lại đã dành sẵn cho con người một cơ thể sinh vật chỉ gồm toàn các tế bào không thay thế: đó ỉà con ruồi giấm. Thật là một điều khó hiểu cho những ai ít quan tâm đến những vấn đề vé sinh học. Khi thấy những phát hiện về sự lão hoá của con người lại có thể liẻn quan đến con ruồi giấm! Còn hàng trăm vấn đề “hóc búa” khác (nếu không muốn nói là hàng ngàn) xung quanh vấn đề lão hoá tế bào, mà trí tuệ con người chưa với tới được trong những thế kỉ qua; mặc dầu khoa học đã cung cấp cho các nhà nghiên cứu những phương diện điên tử hiện đại nhất, những máy phát tia ỉade tinh vi và những phim gia tốc để nghiên cứu cẫi chết của chĩ một tế bào trong cơ thể sống, cùng những tập tính của quần thể tế bào xung quanh. Hiện nay, chúng ta tạm hãy vừa lòng với những hiểu biết về sự lão hoá tế bào và phần từ ở mức độ tóm tắt như sau:

- Nếu lọạỉ bỏ mọi căn nguyên gây Ịáo hoá bệnh lý thì sự hoá già sinh lý là kết quả bình thường của một chương trình di truyền định sẵn cho mỗi giống, mỗi loài và mỗi cá thể. Có rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến chương trình di truyền đó, thúc đẩy nó tiến nhanh hơn (như tác dụng của những hoá chất...).

- Chương trình dì truyền này nằm trồng các thể nhiễm sẵc của nhân tế bào, là những phân tử khổng lồ chất axit đesoxyribonucleic (ký hiệu DNA). Thổi càng cao thì lương DNA trong cơ thể càng giảm.

- Cùng tuổi tác và thòi gian, bản thân mỗi phân tử DNA tích luỹ những sai lầm trong quá trình “chỉ huy” tổng hợp các protêin trọng yếu của cơ thể. Chính những sai lầm này là đặc trưng cho mọi quá ữình lão hoá. Điều nhận xét này đã được chứng minh trong phòng thí nghiệm, khi người ta đưa quá trình lão hoá vào quan sát trọng ống nghiệm. Tất cả các tế bào có khả năng sinh sản, đều “tích luỹ những sai lầm” và phát sinh những biến di từ lần nuôi cấy thứ 40 trở đi. Có nghĩa là tế bào chỉ sinh sản bình thường, thực hiện những sao chép bình thường đến 40 thế hệ. Tăng lên nữa thì sự sao chép sẽ bị sai lầm và phát triển nhũng biến dị, mặc dầu mội trường đã được luôn luôn đổi mới và trong điều kiện vô trùng tuyệt đối. Phân tử DNA “chỉ huy” sự sinh sản ra vô sô các loại men sinh học cho các quá trình chuyển hoá trung gian. Các men này xúc tiến hàng ngàn loại phản ứng sỉnh tổng hợp khác nhau cùa cơ thể. Có thể xầy ra những sai lầm trong nhiều chặng trung gian khi tổng hợp các loại men đó. Kết quả là những quá trình sinh hóá tiếp theo của cơ thể bị phong toả ở những khâu nhất định, gây nên những trạng thái “ỳ sinh học”. Cùng với thời gian, nhũng sai lầm ấy có thể tăng lên làm chồ khả năng sửa chữa của cơ thể bị suy giảm. Những protein mang những sai lầm được sinh ra, đến lượt nó ,sẽ bị hệ thống miễn dịch của cơ thể không nhận ra và không công nhận, vì những khuyết tật nó đã mang trong lòng. Cả những tế bào bị biến dị do tích luỹ những sai lầm cũng sẽ sinh ra những dòng tế bào mà cơ thể không chấp nhận và sẽ trỏ thành đối tượng công kích của hệ thống miễn dịch của cơ thể. Đó là căn nguyện của những sai lầm miễn dịch học xảy đến cho người già, làm cho cơ thể người già tạo ra kháng thể chống lại chính mình, chống lại những phân tử protein mang sai lầm đã trồ thành xa lạ đối với hệ thống miễn dịch, nhưng lại chính là một thành phần của cơ thể. Đó cũng là cơ chế của cả một hệ thống bệnh tự miễn dịch do tuổi tác sinh ra, Tuy nhiên, hoàn toàn không có ý nghĩa là sự lão hoá theo di truyền được mã hoá sẵn ấy là một định mệnh. Khoa học có thể đẩỵ lùi được nó trong tương lai, vì “trong giới sinh vật, chỉ có con người được trang bị bằng trí tuệ không ngừng được nâng cao là có khả năng tấn công vào cái giẳ và cái chết”. (Akimusơkin).

Chúng ta chớ vội kết luận những ước muốn của nhiều nhà nghiên cứu về tuổi thọ ngày naý ĩà viển vông, là xa thực tế, hoặc thậm chí là “điền rồ” nữa. Môrat Vactnian, nhà 'tâm' thần học Liên Xồ đã nhận xẻt lý thú: “tất cả những cuộc khám phá lớn ngày nay đều xuất phát từ những giả thuyết mà lúc đầu ngứời ta cho là những "gia thuyết điên râ”, và từ những loại giải pháp tuyệt đối không giống sự thật chút nào...”.


Như thế thì chúng ta hãy khoan chỉ trích những nhà khoa học nào quá giàu óc tưởng tượng đang mơ ước đến những tuổi thọ ký diệu. Có thể điều mà chúng ta đang tin như một “ định mệnh” cho con người về quãng thời gian sống hiện nay, và những ước mơ tưởng như “điên rồ” về tuổi thọ, biết đâu lại trở thành một chân lý của khoa học ngày mai.

Đọc thêm tại:

Read more…

Sự lão hoá tế bào và sự lão hoá phân tử

21:14 |
Sự lão hoá tế bào và sự lão hoá phân tửChúng ta đang đề cập một cách đại lựơc những lý thuyết chinh giải thích căn nguyên dẫn đến lão hoá. Những lý thuyết đó không những đã có cơ sở quan sát khoa học, mà hầu như cổ nhân cũng có đề cập đến từ những thòi đại cổ xưa, tuy ở trình độ thô sơ, dựa trên trí phán đoán vắ khả năng tư duy trực giác của người xưa. Khó có thể phủ nhận đứợc những lý thuyết đó, những cũng khó có thể chấp nhận riêng lý thuyết nào là đúng hoàn tóằri Già dó căng thẳng thần kinh kéo dài; già do ăn uổng sai lầm làm cho khí huyết suy giảm; già do thiếu oxy,do hoạt độrig suy kém của hệ nội tiết; già do ô nhiễm môi trường v.v... tất cả đều có những chứng cớ xác đáng. Cải thiện cuộc ểống, loại trừ những căn nguyền trẽn đểù dẫn đếh phục hồi sức khỏe, ngăn chặn được các quá trình lão hoá bệnh lý. Tuy nhiên, hình như những lý do trên chỉ mới tới gần đựơc “lẽ phải”, chứ chưa phải JỊỊ “Ịẽ phải tuyệt đối” trên con đường đi tìm nguồn gốc Ịão hoá”. Những cãn nguyên trên đều cố thể dẫn đến cái giài bệnh lý, Nó gây nên một loạt bệnh của tuổi già ch#: chưa phải là căn nguyên gây ra cái già chính thống, cái già theo đúng nghĩa của nó. Những quá trình già bệnh \ý có thể bắt đầu từ một bô phận, gây nên nhũng tổn thương nặng nể cho bộ phận đó và dẫn đến cáỉ chết của bộ phận mắc bệnh, làm chết lây các bộ phận khác và toàn cơ thể, trong lúc các bộ phận này chưa già và chưa đáng phải chấm dứt cuộc sống. Ví dụ như những người chết do vữa xơ động mạch vành tim, phát sinh huyết khối cơ tim. Nhiổu tài liệu giải phẩu thi thể đã chứng minh rằng ở những người chết vì loại bệnh này, các phủ tạng khác có khi còn rất tốt, có khi não và thân chưa có biểu hiện gì của sự già sớm. Bệnh ung thư và một số bệnh khác ở những người lớn tuổi cũng thế. Ở đây quá trình lão hoá thực thụ thật ra chưa thể hiện.
Quá trình này hình như nằm trong mỗi tế bào của cơ thể, trong những phân tử protein mang những “chìa khoá bí mật của chương trình già cỗi” đã được định sẵn và mã hoá cho mỗi con người chúng ta.

Vì vây, nghiên cứu căn nguyên và cơ chế lão hoá, không thể không đề cập đến vấn đề lão hoá tế bào và   lão hoá phân tử. Đây là lý thuyết về sự hoá già mới mẽ nhất hiện nay, và cũng là một hướng phát triển đầy triển vọng tương lai.


Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi muốn nghiên cứu cái già cùa những sinh vật có tầm vóc như con người lại phải tìm hiểu đến một tế bào nhỏ bé chỉ vài ba chục micrômét, hay một phân tử chất đạm với kích thước chỉ bằng vài phần triệu milimét. Một tế bào tuy nhỏ bé nhưng vẫn còn là đối tượng quá lớn. Ngày nay,người ta phải nghiên cứu những phân tử trong tế bào chỉ nhỏ bằng 1/50.000 lần của bản thân tế bào đó. Cơ thể con người là một tập “dân số” khổng lồ, gồm 300.000 tỷ tế bào. Tập hợp “dân số” ấy hợp thành những quần thể khác nhau, chức năng được biệt hoá rõ rệt; nhưng đều hoạt động trong một trật tự vô cùng hài hoà, vô cùng chặt chẽ, tuân theo quy luật của cơ thể để hướng vào mục đích chung là sự tồn tại và phát triển của cá thể. Chưa có một dân số nào trên thế giới này đông hơn, có trật tự hơn và có tổ chức hơn “dân số” của cơ thể một con người. Toàn bộ dân số trên thế giới mới đạt hơn 6 tỷ, so với “dân số tế bào” một cơ thể thì chưa thấm vào đâu; vậy mà trong tổ chức của thế giới loài người cũng còn tồn tại biết bao điều bất hợp lý nghiêm trọng. Trật tự hợp lý cao độ của quần thể tế bào một cơ thể, là kết quả của cả một quá trình tiến hoá lâu dài của sinh vật. “Dân số” 300.000 tỷ tế bào có trong cơ thể con người có “trình độ văn minh” cao, có những “luật lệ” ràng buộc lẫn nhau một cách “bình đẳng và tự giác” rất mực; có sự sinh sản và tử vong xã hội; có hàng rào bảo vệ bí mật và công khai chống mọi sự xâm lấn của những tác nhân ngoại giới. Tóm lại, “dân số” ấy có mọi hoạt động như một xã hội có nền văn minh và tổ chức cao, tuân theo những quy luật điều khiển học và logic học chặt chẽ. Đó là một “tác phẩm vĩ đại” không gì sánh kịp của thiên nhiên. Bản thân việc nghiên cứu về “cái già và cái chết” của tế bào đã đề xuất ra một loạt các vấn đề mới mẻ và hấp dẫn như: tìm hiểu tập tính của từng loại tế bào; nghiên cứu “xã hội học” tế bào, sinh thái học, nhân khẩu học, “phong tục học” của quần thể tế bào. Nếu không giải quyết được những vấn đề đó thì cũng không thể hiêu biết được “quá trình lão hoá” bắt đầu từ một điểm của tế bào, tại sao và do đâu lại thành ra một quá trình lan tràn toàn thể không thể cưỡng lại được?

Đọc thêm tại:

Read more…

Già do hậu quà của sự "ô nhiễm môi truờng sông lâu dài’’

21:11 |
Già do hậu quà của sự "ô nhiễm môi truờng sông lâu dài’’Một loạt bệnh gắn liền với tuổi già như ung thư, bệnh tim mạch, các loại thoái hoá xương khớp.., chẳng những không bớt đi mà mỗi ngày lại thấy tăng lên, nhất là ở các nước công nghiệp phát triển. Các bệnh trên không những đánh vào những người đã trên tuổi 60, mà ngày nay, người ta thấy nhiều người chưa đến tuổi 40 đã bị: đến nỗi có nhà bác học đã phải kêu lên: “... các bản thống kê trên thế giới cho biết cái chết đã “tấn công” trở lại. Những năm gần đây, con sô' người chết sau tuổi 35 tăng dần lên, dường như y học đã hết “đạn dược” cho nên từ tấn công đã phải chuyển sang “phòng ngự. Nhất thiết chúng ta phải có những cố gắng mới..Mặc dầu y học đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng sự gia táng các bệnh trên đã nói lên cái giá phải trả của một số nước công nghiệp hoá không chú ý đầy đủ đến môi trường và công tác vệ sinh an toàn xã hội. Nguyên nhân gầy ra, đứng đầu là nạn ô nhiễm môi trường sống. Nạn ô nhiễm đã tăng lên một cách nghiêm trọng cùng với đà phát triển của công nghiệp.

Từ khi khoa học khám phá ra rằng, một số hoá chất từ trước đến nay vẫn được dùng để bảo quản thực phẩm, lương thực; một số các chất diệt cỏ, diệt côn trùng gây hại; hay độc tố một số loại nấm mốc, đã có khả năng gãy nên những ung thư trên súc vật thí nghiệm, thì vấn để ô nhiễm môi trường sống tác động đến quá trình lão hoá bệnh lý cần được chú ý nghiên cứu.

Nạn ô nhiễm môi trường sống ngày nay là một vấn đề lớn, chẳng những có tầm quan trọng ở từng quốc gia mà nó đã trở thành một vấn đề quốc tế. Nó không phải chỉ làm cho các nhà lão khoa quan tâm mà còn là mối quan tâm chung cho các ngành học xã hội cũng như các nhà chính trị; bởi vì nó là nguyên nhân gây nên những hậu quả xấu đến sức khỏe của con người và đến sự phát triển của dân tộc trong tương lai. Nói chung, nền văn minh công nghiệp của thế giới ngày nay đã tạo ra cho môi trường sống của con người' những loại ô nhiễm sau đây:

1.         Các khí độc từ hơi thải của các nhà máy, của các loại xe cộ có động cơ như: co, C02 SOz... kèm các hơi xăng dầu, hơi chì, thủy ngân v.v...

2.         Ô nhiễm do bụi: do giao thông, công nghiệp, nông nghiệp (khói hoá chất, bụi xi măng, đất, nấm mốc...).

3.         Các nước thải công nghiệp, nhà máy, bệnh viện, làm ô nhiễm các nguồn nước sinh hoạt. Ở các nước chậm phát triển còn có nguồn ô nhiễm do phân người, phân súc vật không có biện pháp xử lý tốt; rác các thành phố cũng là nguồn ô nhiễm đáng kể.

4.         Bụi phóng xạ do các vụ nổ nguyên tử, các nhà máy điện nguyên tử làm ô nhiễm khí quyển. Các nước có chiến tranh còn bị nạn ô nhiễm do các chất hoá học, như chất Dioxin, do vi trùng v.v...

5.         Ô nhiễm do các hoá chất dùng làm thuốc trừ sâu, diệt cỏ (DDT, 666 ...), các chất dùng để bảo quản ngũ cốc, thực phẩm, hoa quả, rau tươi, đồ hộp v.v...

6.         Ngoài ra còn những loại “ ô nhiễm” do tiếng ồn quá mức, do sức nóng, do ánh sáng quá mạnh... Những yếu tố đó cũng gây tác động không nhỏ đến sự sống của con người.

Người ta đã tính ra rằng: nạn ô nhiễm không khí ở Mỹ đã làm giảm 15% năng suất lao động. Ở Pháp tiếng ồn đã là nguyên căn của 11 tai nạn lao động và mỗi năm làm mất đến 1 tỷ giờ lao động (Tambois). Tiếng ồn làm giảm 30% năng suất của người lao động phổ thông, làm giảm 60% của người lao động trí óc. Một công trình nghiên cứu thích lực trên 1218 công nhân luyện kim ở Italia cho biết: làm việc ở nơi nhiều tiếng ồn từ 1 đến 5 năm thì 24% công nhân bị điếc ở trình độ trung bình, làm việc từ 6 đến 10 năm thì 35% bị điếc, từ 16 đến 20 năm là 50%, trên 20 năm là 96 % bị điếc. Điếc kèm với tình trạng suy nhược thần kinh thường xuyên xuất hiến sớm ở tuổi già. Trong điều kiện luôn luôn bị các yếu tố như tiếng ồn, ánh sáng, hoá chất... công kích thì con người không thể nào nói đến sống lâu.

Để hình dung ra nạn ô nhiễm không khí ở các nước công nghiệp phát triển nghiêm trọng đến dường nào, chúng ta hãy xem một vài dẫn liệu trong các cuốn sách trên như sau: "... trong các ngày từ 1 đến 5 tháng 12 năm 1930 tại vùng Searinh thuộc Bỉ, có nhiều người bị ốm và 60 người bị chết do nhiễm độc khí C02 trong một vùng rộng 60 km2. Trong thời gian từ 27 đến 31 tháng 10 năm 1948 ở thành phố Nonora của Mỹ, có 6.000 người bị ốm do nhiễm độc không khí. Ngày 5 đến 9 tháng 12 năm 1952 tại Luân Đôn có khoảng 3500 người bị chết do khói mù dầy đặc từ các nhà máy thải ra. Ở Tôkyô,nãm 1970 đã có 55.000 nạn nhân bị ô nhiễm không khí thải vào nằm ở bệnh viện. Trong năm 1972 đã có 172 lần báo động và không khí bị ô nhiễm trong 5 thành phố lớn ở Nhật Bản".

Cơ quan bảo hộ môi trường của Mỹ đã chứng minh rằng chỉ cần một liều 1 micro gam (108) gam chất benzopyren trong 1000 m3 không khí cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư phổi lên gấp 5 lần. Vậy mà ở thành phố Nagoya và Osaka (Nhật Bản) nồng độ chất này cao tới hơn 10.000 lần so với vùng không khí bị ô nhiễm. Riêng nhà máy Kenneni Soko ở Kita Kyushu sản xuất nước chấm từ Diphenyl Polyclo đã làm cho 15.000 người mắc bệnh và 28 người chết. Đấy là nói về nạn ô nhiễm không khí, nó đã thật sự trở thành mối đe dọa cho những thành phố phát triển công nghiệp theo kiểu tư bản hoang dã ban đầu, chỉ biết lấy lợi nhuận làm chính. Nhưng không phải chỉ nhân dân các thành phố đó phải chịu, mà nó còn có nguy cơ lan rộng ra xung quanh, làm ô nhiễm nhiều nước lân cận. Theo những tính toán xắc đáng thì khí S02 thải và trong khí quyển sẽ lơ lững gần mặt đất từ 4 đến 8 ngày và có thể theo gió đi xa từ 1500 đến 3500 Km. Vì vậy, khí độc thải ra từ các khu công nghiệp ở Tây Đức có thể de doạ cả các nước Bắc Âu.

Nói đến nạn ô nhiểm các sông ngòi và bờ biển thì cũng chẳng kém kinh khủng. Người ta đã biết có nhiều vụ nhiễm độc xảy ra do nạn ô nhiểm này có vụ nhân dân nhiều làng ven sông biển bị nhiểm độc thủy ngân, có hàng trăm người chết vì ăn phải cá nhiễm độc do nước thải của nhà máy hóa chất gây ra (Nhật Bản). Chỉ riêng nước Mỹ, hàng trăm nhà máy đã thải vào môi trường khoảng nửa triệu kg kim loại độc. Ở Anh, hàng năm đã dùng 10.000 tấn chì để pha xăng, số chì đó lại thải vào khí quyển dưới dạng hơi khi xăng bị đốt trong các động cơ. Đó là chưa kể đến các chất khác cũng tác hại không kém, như cađium, mangan...

Vai trò của chì của mangan trong lão hoá cũng được để cập đến. Khảo sát lượng chì trong máu số trẻ em ở các khu dân nghèo tại Mỹ, người ta phát hiện được tới 25% số trẻ bị nhiễm độc chì chưa có biểu hiện, còn 2 đến 5% thì đã có biểu hiện ngộ độc. Bênh nhiễm Amiăng phổi đã phát sinh và lan ra cùng với sự phát triển của công nghiệp đệt. Các cuộc điều tra cổ điển đều cho phép rút ra kết luận và tỷ lệ tử vong đã tăng với quá trình sản xuất công nghiệp ở các nước công nghiệp hóa ban đầu1. Các thuốc trừ sâu, diệt cỏ làm ô nhiễm môi trương sống của con người cũng là điều đáng lo ngại. Nếu nó đem đến cho nông nghiệp những năng suất đáng kể thì trái lại, cũng đem đến cho mồi trường sống thêm nhiều chất độc. Thì ra cái lợi nào cũng có mặt trái của nó. Nếu con người không thấy trước những mặt trái đó để đề phòng thì tất yếu phải trả giá lớn cho sự phát triển! Điều này các triết gia cổ Á Đông đã nói từ lâu trong học thuyết "âm dương" nổi tiếng.


Trên đây, chúng tôi đã nêu lên một số dẫn liệu khái quát về nạn ô nhiễm môi trường. Khó mà có thể phủ nhận những tác động của nó đến tình trạng sức khoẻ chung của xã hội, đến quá trình lão hoá và đến tuổi thọ của con người. Trong nhiều thí nghiệm nuôi cây tế bào hoặc nuôi cấy vi sinh vật trong ống nghiệm, sự nhiễm bẩn môi trường do tích luỹ các chất cặn bã của chính sinh vật thải ra, hay do các quá trình chuyển hoá trung gian hình thành cũng dẫn đến sự thoái hoá của tế bào và của sinh vật nuôi cấy.

Đọc thêm tại:

Read more…